Những quy định mới về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 đã đặt nền móng cho thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế và phát triển của đất nước ta. So với các bản hiến pháp trước đây, đặc biệt là Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 có những phát triển mới trong chế định về quyền con người

Thứ nhất, sự thay đổi về tên chương chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.
Về tên gọi của Chương II, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, đã được thay đổi với “quyền con người” trở thành tiêu đề của tên Chương, thay vì chỉ gọi là “quyền và nghĩa vụ của công dân” như tất cả các bản Hiến pháp trước đây. Sự bổ sung cụm từ “quyền con người” này là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa lớn trong bối cảnh phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ đơn thuần là sự bổ sung một cụm từ mang tính kỹ thuật lập hiến, mà điều quan trọng là phản ánh một tư duy lập hiến phát triển, phù hợp với xu hướng của dân tộc, thời đại và nhân loại. Khảo luận hiến pháp các nước trên thế giới và trong khu vực đều chỉ ra rằng, phần lớn các chế định về quyền và tự do của công dân đều được đặt trong Chương Quyền con người (human rights) hay Quyền và tự cơ bản của con người (fundamental human rights and freedoms). Bằng việc sử dụng cụm từ “quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”, thay cho cụm từ “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” vốn được sử dụng cho tên Chương ở tất cả các bản Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013 đã chính thức nâng tầm chế định của Quyền con người trở thành một Chương, chứ không chỉ là một nội dung của Chương trong Hiến pháp. Hiến pháp 2013 cũng lần đầu tiên xóa bỏ ranh giới còn chưa rõ ràng và nhầm lẫn giữa khái niệm quyền con người và quyền công dân. Đồng thời, nó cũng ghi nhận việc mở rộng các chủ thể của quyền, khẳng định chủ thể rộng nhất của các quyền con người là mọi cá nhân, mọi người và tất cả mọi người đều xứng đáng được hưởng. Việc đổi tên chương chế định về quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp 2013 thể hiện nỗ lực và cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như trước cộng đồng quốc tế. Quá trình hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế, cùng với vị thế và trách nhiệm là một thành viên tích cực và ngày càng có vai trò quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế, luôn đặt ra cho Việt Nam cần phải nội luật hóa và thực thi đầy đủ những cam kết quốc tế, đặc biệt là về quyền con người. Hiến định các quyền con người và xem đó là tên Chương, có nghĩa là hiến định các quyền của tất cả mọi người, là sự thừa nhận rộng rãi các nguyên tắc nền tảng của Liên hợp quốc về quyền con người, đó là các quyền con người mang tính phổ quát và như nhau đối với tất cả mọi người; bình đẳng, không phân biệt đối xử; nguyên tắc pháp quyền…

Thứ hai, Chương quyền con người, quyền công dân được đưa lên Chương 2 trong Hiến pháp 2013, ngay sau Chương chế định về chế độ chính trị. Đây không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về vị trí của các Chương mang tính kỹ thuật lập hiến, mà phản ánh sự thay đổi về nhận thức lý luận, về tư duy lập hiến. Đó là, lần đầu tiên kể từ sau năm 1946 đến nay, vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được đặt đúng vị trí trang trọng vốn có của nó. Điều này phản ánh sự thay đổi về nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta cũng như tư duy lập hiến của Nhà nước ta trong việc xem quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân là những vấn đề then chốt của việc thiết kế bản Hiến pháp mới.

Đồng thời, chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được đặt trang trọng ngay tại Chương II của Hiến pháp là sự khẳng định và đề cao nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, nguyên tắc nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mục đích cuối cùng của một bản hiến pháp bất kỳ sau khi xác lập chế độ chính trị, các nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hay các thiết chế liên quan khác, đều là nhằm khẳng định và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của công dân và tất cả mọi người, đều nhằm bảo đảm hạnh phúc của nhân dân. Đặt chế định quyền con người ở Chương II cho thấy vị trí và tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề quyền con người, quyền công dân - không chỉ như là mục tiêu của chế độ chính trị, nhà nước pháp quyền XHCN, mà còn là nguyên tắc nền tảng của việc thiết kế toàn bộ các chế định khác.

Hơn nữa, việc dịch chuyển từ Chương V của Hiến pháp 1992 lên Chương II của Hiến pháp 2013 là sự ghi nhận của một thực tiễn đổi mới toàn diện, hội nhập sâu rộng và phát triển đất nước trong hơn hai thập kỷ vừa qua, đồng thời phản ánh xu hướng tiến bộ và phát triển. Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới và và trong khu vực đều đặt Chương quyền con người ở vị trí trang trọng nhất, đó là ở Chương I hoặc Chương II. Vì vậy, việc đặt quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Chương II, phản ánh một sự thay đổi về nhận thức lý luận và tư duy lập hiến của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ ba, về sự mở rộng nội hàm, chủ thể của các quyền con người, chẳng hạn như, lần đầu tiên khái niệm hoàn chỉnh “quyền con người” được sử dụng vào tên Chương, cùng với tên “quyền và nghĩa vụ của công dân”. Các chủ thể thụ hưởng các quyền đều được mở rộng, từ việc chỉ thuộc về “công dân” đến “mọi người”, “nhóm” (đặc biệt là những nhóm dễ bị tổn thương), điều này hết sức quan trọng trong việc nội luật hóa các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, phù hợp với xu hướng ngày càng tiến bộ, theo hướng hội nhập và phát triển. Trong các bản Hiến pháp trước đây, đặc biệt là Hiến pháp 1992, nội hàm của quyền con người chỉ chủ yếu dừng lại ở khái niệm chủ thể là “công dân”, mà không phải là “mọi người”. Điều này vô cùng quan trọng chế định về quyền con người. Bởi lẽ, Hiến pháp 2013 lần đầu tiên đã xác định chủ thể của các quyền con người là tất cả mọi người, chứ không chỉ là công dân. Như vậy, đã tránh được sự nhầm lẫn giữa quyền con người và quyền công dân thường mắc phải trong các bản Hiến pháp trước đó. Chẳng hạn, ngay Điều 50 của Hiến pháp 1992, khi đang thừa nhận nội hàm của các quyền con người theo nghĩa rộng, lại quy về và đồng nhất chúng với các quyền công dân (nghĩa là quy đồng chủ thể của quyền con người với chủ thể của quyền công dân): “Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Hiến pháp 1992, Điều 50). Khắc phục cách quy đồng các quyền con người về các quyền công dân, Hiến pháp mới lần này đã phân biệt nội hàm của hai khái niệm này và chế định rất cụ thể chủ thể của quyền con người và chủ thể quyền công dân. Hơn nữa, Hiến pháp 2013 còn chế định những quyền và nghĩa vụ công dân cần phải có.

Cùng với việc hiến định các quyền mới, Hiến pháp năm 2013 còn sửa đổi, bổ sung hơn 30 điều khác trong Chương chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Những sự bổ sung và sửa đổi về các quy định này là một bước tiến mới trong việc hiến định các quyền và tự do cơ bản của công dân cùng với những thiết chế, cơ chế bảo đảm hiệu quả, đồng thời tăng cường việc thụ hưởng các quyền của công dân, nhất là thông qua các cơ chế thực hiện quyền dân chủ trực tiếp. Chẳng hạn, việc hiến định quyền tiếp cận thông tin (Điều 25) là một công cụ hữu hiệu để công dân thực hiện các quyền dân chủ trực tiếp của mình, bao gồm quyền tham gia vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách.

Thứ tư, khẳng định nhân phẩm là một quyền bất khả xâm phạm của mọi người. Hiến pháp 2013 đã lần đầu tiên khẳng định việc bảo vệ nhân phẩm như là một quyền bất khả xâm phạm của con người (tại Điều 20): “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể […] và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” [1]. Như vậy, đây chính là việc thừa nhận nhân phẩm là quyền bất khả xâm phạm của tất cả mọi người. Điều này cho thấy sự nhận thức mới của Đảng và Nhà nước ta trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người dựa trên quan điểm của Liên hợp quốc và các chuẩn mực quốc tế.

Nhân phẩm (human dignity) hay phẩm giá (dignity and values) là một giá trị cốt lõi, phổ quát và xuyên suốt của quyền con người. Hiến pháp của các nhà nước hiện đại, đặc biệt của các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Đức… đều đặc biệt nhấn mạnh đến “nhân phẩm” như là một quyền bất khả xâm phạm và thiêng liêng của mỗi người. Chẳng hạn, Hiến pháp CHLB Đức (thông qua năm 1949, sửa đổi 2009) đặc biệt nhấn mạnh nhân phẩm ngay tại Điều 1 Chương đầu tiên (về các quyền cơ bản): “1. Nhân phẩm là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm là nghĩa vụ của tất cả các cơ quan nhà nước; 2. Nhân dân Đức thừa nhận các quyền bất khả xâm phạm và không thể chuyển nhượng như là nền tảng của mỗi cộng đồng người, của hòa bình và công lý trên thế giới” [2]. Điều 21 Chương 2 về “Quyền và Tự do cơ bản của Con người và Công dân”) của Hiến pháp CHLB Nga (1993) cũng khẳng định rằng “1. Nhân phẩm được Nhà nước bảo vệ. Không có bất cứ lý do gì tước đi quyền này” [3]. Hiến pháp CHND Trung Hoa (2004) khẳng định “Nhân phẩm của mỗi công dân nước CHND Trung Hoa là bất khả xâm phạm. Lăng mạ, phỉ báng, buộc tội và kết tội sai trái đối với công dân bằng bất cứ phương tiện nào đều bị ngăn cấm” (Điều 38) [4]. Ngay trong chương đầu tiên, Hiến pháp Thái Lan (2007) cũng đã khẳng định “Nhân phẩm, quyền, tự do, bình đẳng của tất cả mọi người đều được bảo vệ” [5].

Hiến pháp 2013 đã quy định chủ thể được bảo vệ về phẩm giá không chỉ dừng lại là công dân (như trong Hiến pháp 1992), mà là các cá nhân nói chung. Quyền con người xuất phát từ nhân phẩm của mỗi người và bảo vệ nhân phẩm là một trong những yêu cầu quan trọng của việc bảo vệ quyền con người, nó thuộc về tất cả mọi người. Điều này vô cùng ý nghĩa trong thực tiễn tôn trọng, bảo đảm các quyền con người cho tất cả mọi cá nhân và nhóm xã hội. Xét từ cơ sở lý luận và thực tiễn, từ kinh nghiệm quốc tế và khu vực, có thể khẳng định rằng, chế định bảo vệ nhân phẩm cho tất cả mọi người là một điểm quan trọng trong Hiến pháp năm 2013.

Thứ năm, Hiến pháp năm 2003 đã bổ sung một số quyền mới, phản ánh xu hướng hội nhập và phát triển của nước ta. Có 4 điều chế định về 4 quyền hoàn toàn mới so với Hiến pháp 1992, đồng thời hơn 30 điều khác đã được bổ sung, sửa đổi. Các quyền mới trong Hiến pháp năm 2013 là: quyền sống (Điều 19), quyền về văn hóa/quyền văn hóa (quyền nghiên cứu khoa học và sáng tạo văn học, nghệ thuật (Điều 40); quyền hưởng thụ văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các giá trị văn hóa (Điều 41); quyền về môi trường/quyền môi trường (quyền được sống trong môi trường trong lành) (Điều 43). Có thể nói, đây là một sự phát triển mạnh mẽ trong chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các quyền này đều bao phủ hai nhóm quyền cơ bản của hệ thống các văn kiện quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, đó là Công ước quốc tế về Các quyền dân sự - chính trị và Công ước quốc tế về Các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa (đã được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua năm 1986, Việt Nam gia nhập năm 1982). Các quyền này đều vô cùng thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại và với tư cách là cá nhân. Trong những quyền mới được chế định lần này, có thể nói việc hiến định quyền sống được xem là bước ghi nhận rõ rệt đối với những cam kết của Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền được sống của tất cả mọi người, đặc biệt là việc bảo vệ quyền sống của các nhóm dễ bị tổn thương (như trẻ em, phụ nữ, người sống chung với HIV/ADIS, người khuyết tật…). Như Điều 19 của Hiến pháp khẳng định, “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Con người không chỉ có nhu cầu và điều kiện để tồn tại, tức là quyền được sống, mà còn cần đến nhu cầu và điều kiện để phát triển, tức là quyền được làm người. Vì vậy, quyền được phát triển gắn liền với việc tiếp cận, thụ hưởng các giá trị vật chất và tinh thần, thành quả của quá trình phát triển, của tiến bộ khoa học và kỹ thuật. Phát triển con người, xét đến cùng chính là sự phát triển toàn diện về mọi mặt mà ở đó, sự hoàn thiện về nhân cách - văn hóa có ý nghĩa quyết định. Chính vì thế, chế định các quyền về văn hóa trong Hiến pháp giúp nâng cao chất lượng của cuộc sống và đích hướng tới của quá trình phát triển. Con người chỉ có thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần khi và chỉ khi họ được tiếp cận, được thụ hưởng các giá trị ấy. Hiến pháp 2013 đã mở rộng chủ thể của quyền về văn hóa, theo đó “mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó” (Điều 40) và “mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” (Điều 41) [6].

Trong quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển đất nước, có những thách thức vô cùng ghê gớm đe dọa đến sự sống, sức khỏe và sự phát triển của con người đó là tình trạng ô nhiễm môi trường (về đất, nguồn nước, không khí, tiếng ồn,…). Vì vậy, quyền sống và quyền phát triển của mỗi người không thể tách rời với quyền về môi trường. Thực tiễn trong hai thập kỷ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta cho thấy, sự suy thoái và ô nhiễm môi trường đã và đang là nguyên nhân trực tiếp của việc tước đi quyền sống, quyền sinh kế và quyền về sức khỏe của mọi người, nhất là những nhóm dễ bị tổn thương (người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người già...). Vì vậy, Hiến pháp 2013 đã lần đầu tiên chế định quyền về môi trường, theo đó “mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” (Điều 43) [7]. Quyền về môi trường là một loại quyền mới trong sự phát triển các thế hệ quyền con người cũng như hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Trên thế giới, cũng chưa phải nhiều quốc gia hiến định quyền về môi trường. Đây là một trong những sự phát triển rõ rệt và đáng chú ý nhất khi Việt Nam là một trong những quốc gia sớm hiến định quyền về môi trường.

Thứ sáu, một trong những sự phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận và tư duy lập hiến là việc bổ sung nguyên tắc hiến định về việc giới hạn quyền hay khi nào quyền con người có thể bị hạn chế. Quyền con người là các giá trị thiêng liêng, vốn có của mỗi người và phải được pháp luật bảo vệ bằng các nguyên tắc pháp quyền, trong một xã hội tiến bộ, văn minh và dân chủ. Việt Nam là thành viên của hầu hết các Công ước quốc tế về Quyền con người quy định các quyền con người chỉ bị giới hạn bằng luật và trong những trường hợp thực sự cần thiết, vì an ninh và trật tự xã hội, vì đạo đức và sức khỏe của cộng đồng, vì quyền và lợi ích của người khác [8]. Nguyên tắc này vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và của tất cả mọi người, là yêu cầu bắt buộc của một nhà nước pháp quyền, dân chủ và tiến bộ. Vì vậy, ngay tại điều đầu tiên (Điều 14 khoản 2) của Chương quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [9]. Ở đây, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, cụm từ “theo quy định của pháp luật” đã được thay thế bằng cụm từ “theo quy định của luật”. Đây là bước phát triển hết sức đáng chú ý trong việc bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của công dân. Như vậy, quyền con người và quyền công dân chỉ bị giới hạn theo quy định của luật, nghĩa là chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền giới hạn các quyền và tự do cơ bản của công dân. Điều này sẽ hạn chế và tránh được sự tùy tiện cắt xén, tước đi hay chối bỏ các quyền và tự do của công dân của các cơ quan nhà nước, nhất là của cơ quan hành pháp. Tất cả mọi sự giới hạn về quyền và tự do cơ bản của công dân kể từ nay trở đi cần phải được thông qua bằng luật. Bởi lẽ, chỉ có ở Quốc hội - cơ quan quyền lực đại diện cao nhất của nhân dân - mới có quyền quy định về những giới hạn, hạn chế đối với một số quyền và tự do của công dân.

Vì vậy, chế định này hoàn toàn phù hợp với xu hướng hội nhập và phát triển, phù hợp với các chuẩn mực của quyền con người quốc tế. Một điểm lưu ý quan trọng tại Điều này đó là các “quyền con người, quyền công dân chỉ bị giới hạn trong trường hợp cần thiết”. Đây là một tiến bộ rõ rệt, khẳng định nguyên tắc pháp quyền, tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các quyền và tự do cơ bản của công dân. Hiến định việc “chỉ bị giới hạn trong trường hợp cần thiết…” nhằm hạn chế tối đa bất cứ sự lạm dụng hay tùy tiện nào tước đi hay hạn chế các quyền và tự do vốn có của mọi người bởi các cơ quan nhà nước.

Thứ bảy, Hiến pháp đã khẳng định việc tôn trọng các quyền và tự do của mỗi người phải trong mối quan hệ với việc tôn trọng quyền và tự do của người khác. Tức là, Hiến pháp đặc biệt nhấn mạnh đến nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người với tư cách là thành viên của xã hội và tư cách là công dân của một Nhà nước - đó là nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Hiến định “nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác”, tức là “quyền được tôn trọng bởi người khác đối với các quyền và tự do của mình”, Hiến pháp khẳng định: “1. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; 2. Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” (Điều 16).

Nguyên tắc hiến định này, một mặt khẳng định sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền và nghĩa vụ, mặt khác đặc biệt nhấn mạnh đến việc thực hiện quyền của người này không thể là sự chối bỏ, phủ nhận hay xâm phạm quyền của người khác.

Thứ tám, Hiến pháp 2013 đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm các quyền con người, nhất là các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa (như quyền được giáo dục, quyền về sức khỏe, quyền được hưởng trợ cấp xã hội…). Chẳng hạn, Hiến pháp khẳng định “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” (Điều 24); “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 26); “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội” (Điều 28); “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36); trẻ em, thanh niên, người cao tuổi được Nhà nước chăm sóc, tạo điều kiện, bảo trợ (Điều 37)… [10]

Nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người là hoàn toàn phù hợp với bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN, theo đó Nhà nước luôn chăm lo đến con người, đến quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người, đến sự phát triển toàn diện của tất cả mọi người, và đặc biệt chịu trách nhiệm chính trong việc tôn trọng, thực thi và bảo đảm các quyền con người.

Thứ chín, Hiến pháp 2013 đã hiến định các thiết chế độc lập nhằm tăng cường các cơ chế thực hiện quyền con người. Chẳng hạn, Hiến pháp bổ sung hoàn toàn một chương mới trong thiết chế liên quan đến tăng cường việc thực hiện quyền tự do, dân chủ của công dân, đó là chương hiến định về Hội đồng Bầu cử quốc gia (Chương X) và bổ sung khả năng để ngỏ cho việc hình thành cơ chế bảo hiến theo mô hình phù hợp (tại Chương XI).

Tăng cường các cơ chế thực hiện quyền, đặc biệt với mô hình Hội đồng Bầu cử quốc gia để bảo vệ các quyền về bầu cử, ứng cử, cũng như việc giám sát thực thi các quyền về dân sự -chính trị của công dân được hiệu quả sẽ giúp bảo đảm tốt hơn quá trình lựa chọn, tuyển chọn ứng viên, ứng cử, bầu cử… Quyền bầu cử, ứng cử là một quyền hiến định quan trọng trong hệ thống các quyền dân sự - chính trị. Thực hành quyền dân chủ của nhân dân trước hết thể hiện qua quá trình bầu cử. Vì vậy, Hội đồng Bầu cử quốc gia sẽ giúp tăng cường tính hiệu quả và thực chất của quyền chính trị của công dân, là điều kiện, tiền đề để thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân.

Mặc dù Hiến pháp không hiến định Hội đồng Hiến pháp như Dự thảo trình trước Quốc hội để xem xét, tại Chương XI quy định về Hiệu lực của Hiến pháp và việc Sửa đổi Hiến pháp, Điều 119 (khoản 2) khẳng định về cơ chế bảo vệ Hiến pháp sẽ do luật định. Điều này mở ra một khả năng thành lập một cơ chế bảo vệ Hiến pháp thông qua một luật mà không nhất thiết phải bắt buộc đưa vào thành một quy định hay chương riêng trong Hiến pháp. Như vậy, bảo vệ Hiến pháp thông qua luật đã được xác lập cơ sở pháp lý cao nhất, bằng một nguyên tắc Hiến định.

Những quyền hiến định có giá trị thiêng liêng, cao cả được xác lập trong Hiến pháp sẽ có ý nghĩa to lớn nếu như chúng được tôn trọng, bảo vệ và thực thi đầy đủ trong thực tiễn. Vì vậy, để Hiến pháp đi vào cuộc sống và trong quá trình thi hành Hiến pháp, cần chú trọng ưu tiên một số biện pháp sau:

Một là, cần rà soát hệ thống pháp luật và chính sách hiện nay liên quan đến các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Bao gồm việc sửa đổi, bổ sung một số Bộ luật, luật liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Nhà ở… Đồng thời, ban hành mới một số luật và văn bản quy phạm pháp luật, gồm: Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Tiếp cậnthông tin,…

Hai là, tăng cường trách nhiệm giải trình trong việc thi hành Hiến pháp của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn xã hội. Trách nhiệm giải trình là một trong những nguyên tắc nền tảng của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ. Trách nhiệm thi hành Hiến pháp và tôn trọng, bảo đảm và thực hiện quyền con người nói chung, trước hết thuộc về các cơ quan nhà nước và các cấp chính quyền (từ trung ương xuống địa phương). Vì vậy, cần tăng cường các cơ chế giải trình, tính chịu trách nhiệm trong việc thi hành Hiến pháp.

Ba là, tăng cường vai trò và trách nhiệm của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong việc thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với việc thi hành Hiến pháp và thực hiện quyền con người.

Bốn là, tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc tổ chức, triển khai thi hành Hiến pháp ở địa phương. Đồng thời tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân…), và các tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng, tự quản trong việc tham gia vào giám sát quá trình thi hành Hiến pháp và quá trình thực thi chính sách ở địa phương.

Năm là, tăng cường giáo dục, phổ biến, tuyên truyền về những nội dung của Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, tới mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, cần chú trọng giáo dục về quyền con người và Hiến pháp, pháp luật nói chung cho đội ngũ cán bộ hoạch định, thực thi và giám sát chính sách, nhất là ở cơ sở. Đây là những chủ thể có trách nhiệm chính trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục, phổ biến, tuyên truyền Hiến pháp và chương chế định về quyền con người cho tất cả các chủ thể quyền (các cá nhân và nhóm xã hội) để mọi người nắm được và tôn trọng, thực hành theo Hiến pháp./.