Phú Yên triển khai đồng bộ các chính sách cho người khuyết tật

Theo kết quả điều tra đến tháng 8/2012, toàn tỉnh Phú Yên có 16.655 người khuyết tật (NKT), chiếm tỷ lệ 1,91 % tổng dân số. Phân theo các dạng tật thì tỷ lệ khuyết tật vận động cao nhất, chiếm 47,62%, tiếp đến là khuyết tật thần kinh, trí tuệ, chiếm 28,39%. Nguyên nhân chủ yếu là do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, rủi ro do thiên tai, và một phần là do di chứng chiến tranh và bệnh hiểm nghèo.

Triển khai thực hiện Luật Người khuyết tật, các thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, liên Bộ: Tài Chính, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, thời gian qua, UBND tỉnh Phú Yên đã chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai đồng bộ các giải pháp; lồng ghép vấn đề khuyết tật vào kế hoạch phát triển của địa phường và của ngành mình; đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về Luật NKT, các văn bản hướng dẫn và những chủ trương chính sách trợ giúp đối với NKT. Qua đó, Luật NKT đã thật sự đi vào cuộc sống, nhiều chính sách trợ giúp của Nhà nước được các cấp, các ngành tổ chức triển khai có hiệu quả, đời sống của đại bộ phận NKT đã được nâng lên, hàng ngàn NKT ở Phú Yên được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như học văn hóa, học nghề tạo việc làm, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng, nhà ở..., phần nào giúp họ vơi đi khó khăn, mặc cảm, tự lực vươn lên hòa nhập cộng đồng.


Năm 2014, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức 5 cụm tập huấn về xác định mức độ khuyết tật cho trên 350 cán bộ, công chức tham gia. Hội đồng Giám định y khoa tỉnh đã hướng dẫn các địa phương một số đặc điểm của đối tượng bị mắc các chứng bệnh hiểm nghèo không quy định cụ thể tại các biểu hướng dẫn xác định dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật như: người bị bệnh tim bẩm sinh, ung thư, tai biến nằm liệt một chỗ, chạy thận nhân tạo, động kinh, tâm thần. Đây là cơ sở để Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã xác định dạng tật và mức độ khuyết tật cho đối tượng. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đã cung cấp đầy đủ biểu mẫu theo quy định tại Thông tư số 37 và Thông tư số 26 để các địa phương phục vụ công tác xác định mức độ khuyết tật và thực hiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng cho NKT theo đúng tiến độ kế hoạch đề ra.
Đến nay, toàn bộ 112 xã, phường, thị trấn của Phú Yên đã thành lập Hội đồng Xác định mức độ khuyết tật cấp xã, bao gồm các thành viên: Chủ tịch UBND xã (Chủ tịch Hội đồng), Trưởng trạm y tế, cán bộ phụ trách Lao động – Thương binh và Xã hội, Ủy ban MTTQVN, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh. Ngay sau khi thành lập, các địa phương đã thông báo và hướng dẫn cho tất cả các đối tượng khuyết tật trên địa bàn (tất cả đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo Nghị định 67, Nghị định 13 và cả đối tượng mới) đều phải kê khai, lập hồ sơ đề nghị xác định, xác định lại mức độ khuyết tật theo hướng dẫn tại Thông tư số 37 của liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Y tế, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện. Đối với những trường hợp đi lại khó khăn, Hội đồng đã tổ chức xác định mức độ khuyết tật tại thôn, buôn, khu phố; trường hợp không thể đến được địa điểm quy định thì tiến hành tại nơi cư trú của người khuyết tật. Nhìn chung, trình tự, phương pháp và các nội dung đánh giá dạng/mức độ khuyết tật được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 37.
Kết quả đến cuối tháng 5/2014, trên địa bàn tỉnh có 14.214 NKT được xác định mức độ khuyết tật, trong đó có 73,07% ở mức độ nặng và 20,89%  đặc biệt nặng. Riêng 80 trường hợp Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã không đưa ra được kết luận về mức độ khuyết tật và bản thân NKT không đồng ý với kết luận ban đầu, Hội đồng Giám định y khoa tỉnh đã tổ chức giám định lại và đã có 43 người được chứng nhận khuyết tật. Đến nay, toàn tỉnh có 14.183 người được cấp chứng nhận khuyết tật. Dựa trên thực tế số lượng NKT, các địa phương đã khẩn trương lập hồ sơ trình UBND huyện, thị xã, thành phố ra quyết định trợ cấp theo đúng Nghị định số 28 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật. Cụ thể, có 9.209 NKT được chuyển hưởng trợ cấp từ Nghị định 67, Nghị định 13 sang Nghị định 28; 5.547 người được trợ cấp mới ; 1.984 người được hưởng trợ cấp chăm sóc NKT đặc biệt nặng; 12 người hưởng trợ cấp NKT nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Luật NKT ở Phú Yên vẫn còn nhiều điểm hạn chế. Đơn cử như trong công tác xác nhận NKT, một số Hội đồng cấp xã còn lúng túng trong xác nhận dạng tật, mức độ khuyết tật, chưa vận dụng được những chứng bệnh thực tế của đối tượng vào các dạng khuyết tật để xác định mức độ khuyết tật. Trách nhiệm của từng thành viên trong Hội đồng chưa được phát huy, còn phụ thuộc khá nhiều vào cán bộ y tế nên tiến độ thực hiện chậm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của NKT. Bên cạnh đó, một số địa phương chưa giải quyết dứt điểm hồ sơ vì các Hội đồng chỉ tập trung xem xét, xác định dạng tật, mức độ khuyết tật và cấp giấy chứng nhận đối với những trường hợp khuyết tật nặng và đặc biệt nặng; nhiều địa phương cũng chưa cấp giấy xác nhận khuyết tật cho người khuyết tật dạng/mức độ nhẹ.
Trong thời gian tới, để công tác chăm sóc NKT được hiệu quả, đảm bảo đúng chính sách an sinh xã hội cho nhóm đối tượng này, tỉnh Phú Yên sẽ thường xuyên tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về nội dung của Luật NKT, những chủ trương chính sách trợ giúp đối với NKT, qua đó, nâng cao trách nhiệm các cấp, các ngành, tổ chức hội đoàn thể, cộng đồng dân cư và gia đình, đồng thời, khuyến khích các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động chăm sóc giúp đỡ, cưu mang đối với NKT đặc biệt khó khăn. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ phối hợp cùng các phòng ban có liên quan hướng dẫn UBND các xã, phường, thị trấn xây dựng kế hoạch và dự toán kinh phí phục vụ cho công tác xác định mức độ khuyết tật theo đúng văn bản hướng dẫn liên ngành nhằm tạo điều kiện cho các địa phương thực hiện tốt chính sách đối với người khuyết tật ở địa phương. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cũng tiếp tục kiện toàn Hội đồng xác định mức độ khuyết tật ở địa phương, đảm bảo triển khai kịp thời công tác xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy chứng nhận khuyết tật, phấn đấu giải quyết dứt điểm không để tồn đọng, trong đó lưu ý đối với nhóm khuyết tật nhẹ. Định kỳ 6 tháng và hàng năm, UBND cấp xã, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện báo cáo kết quả thực hiện Luật người khuyết tật và danh sách những người đã được cấp giấy xác nhận cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.