Công ước về quốc tịch của Phụ nữ khi kết hôn

Được thông qua và đề ngỏ cho các nước ký, phê chuẩn theo Nghị quyết 1040 (XI) ngày 29-1-1957 của Đại hội đồng Liên hợp quốc; có hiệu lực từ ngày 1-8-1958, căn cứ theo Điều 6 của công ước

Các quốc gia thành viên,

Thừa nhận rằng, sự xung đột luật pháp trong thực tiễn về quốc tịch có Để làm phát sinh việc mất hay có thêm một quốc tịch của người phụ nữ đã kết hôn, ly hôn hoặc thay đổi quốc tịch của người vợ theo người chồng trong hôn nhân,

Thừa nhận rằng, trong Điều 15 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã khẳng định rằng: “Mọi người đều có quyền có một quốc tịch” và “Không ai bị tước quốc tịch một cách vô cớ và bị từ chối quyền được thay đổi quốc tịch”,

Mong muốn cần phải hợp tác với Liên hợp quốc trong việc thúc đẩy việc tôn trọng và thừa nhận rộng rãi các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người mà không có sự phân biệt về giới tính,

Do đó, nhất trí những điều khoản sau đây:

Điều 1

Các quốc gia thành viên nhất trí rằng việc kết hôn hay ly hôn giữa một người là công dân của nước mình với một người nước ngoài, hoặc việc thay đối quốc tịch của người chồng trong hôn nhân không mặc nhiên ảnh hưởng đến quốc tịch của người vợ.

Điều 2

Các quốc gia thành viên nhất trí rằng, việc một trong những công dân của mình có thêm một quốc tịch nước khác một cách tự nguyện hoặc từ bỏ quốc tịch nước mình không ngăn cản việc giữ quốc tịch nước đó của người vợ công dân đó.

Điều 3

Các quốc gia thành viên, nhất trí rằng, người vợ của một trong những công dân nước mình là người nước ngoài, theo nguyện vọng của người ấy, được nhập quốc tịch của người chồng theo thủ tục nhập quốc tịch ưu tiên đặc biệt. Việc thừa nhận quốc tịch như vậy chỉ có thể bị những giới hạn liên quan đến các vấn đề như lợi ích của an ninh quốc gia hay chính sách công cộng.

2. Mỗi quốc gia ký kết nhất trí rằng, công ước này không được giải thích làm ảnh hưởng đến bất kỳ thực tiễn tư pháp hay lập pháp nào mà ở đó nguy vợ là người nước ngoài của người chồng là công dân của một nước, đưa quyền có quốc tịch theo người chồng, thể theo nguyện vọng của họ, như là một vấn đề của quyền con người. 

Điều 4

1. Công ước này để ngỏ cho việc ký và phê chuẩn của các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc và bất cứ một quốc gia nào là thành viên của một tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc, hoặc là thành viên của Quy chế của Tòa án Công lý quốc tế, hay một quốc gia nào đó được Đại hội đồng Liên hợp quốc mời tham gia.

2. Công ước này phải được phê chuẩn, các văn kiện phê chuẩn sẽ được Tổng Thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu.

Điều 5

1. Công ước này để ngỏ cho việc gia nhập của tất cả các quốc gia được đề cập theo khoản 1 Điều 4.

2. Việc gia nhập sẽ có hiệu lực kể từ khi văn kiện gia nhập được gửi tới Tổng Thư ký Liên hợp quốc.

Điều 6

1. Công ước này có hiệu lực vào ngày thứ 19 kể từ ngày lưu chỉ kiện phê chuẩn hoặc gia nhập thứ 6.

2. Đối với mỗi quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập cộng ước này sau khi văn kiện gia nhập hay phê chuẩn thứ 6 được lưu chiểu, công ước này sẽ có Câu lực kể từ ngày thứ 19 sau ngày văn kiện phê chuẩn hay gia nhập của quốc gia đó được lưu chiểu.

Điều 7

1. Công ước này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ chưa tự trị, quản thác, thuộc địa và độc lập trong quan hệ quốc tế mà ở đó các quốc gia thành viên chịu trách nhiệm quản lý; quốc gia thành viên sẽ phải tuân theo các quy định tại khoản 2 của điều này, nếu tại thời điểm ký, phê chuẩn hoặc gia nhập quốc gia đó tuyên bố là một lãnh thổ hay các lãnh thổ độc lập của quốc gia và ở đó công ước được áp dụng trên thực tế do kết quả của việc ký, phế chuẩn và gia nhập đó.

2. Trong bất cứ trường hợp nào mà ở đó, vì mục đích quốc tịch, một lãnh thổ độc lập không được đối xử như là lãnh thổ chính quốc, hay trong bất cứ trường hợp nào mà ở đó, một lãnh thổ độc lập, căn cứ theo luật hiến pháp hoặc thực tiễn của quốc gia thành viên mà công ước này không có hiệu lực trên lãnh thổ đó, thì quốc gia thành viên chịu trách nhiệm quản lý lãnh thổ phải cố gắng nhằm đảm bảo sự nhất trí cần thiết về hiệu lực của công ước trên lãnh thổ độc lập này trong giai đoạn 12 tháng kể từ ngày ký kết công ước của quốc gia thành viên đó, và khi mà sự nhất trí như vậy đạt được thì quốc gia thành viên thông báo cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Công ước này sẽ có hiệu lực với lãnh thổ được đề cập trong thông báo đó kể từ ngày Tổng Thư ký nhận được thông báo.

3. Sau ngày hết hạn giai đoạn 12 tháng được đề cập ở khoản 2 của điều này, các quốc gia thành viên có liên quan phải thông báo cho Tổng Thư ký về kết quả thăm dò ý kiến đối với các lãnh thổ độc lập về các quan hệ quốc tế với những nước chịu trách nhiệm quản lý lãnh thổ đó và về quan điểm của các nước này đối với việc áp dụng công ước trong lãnh thổ ấy.

Ảnh minh họa.

Điều 8

1. Ngay khi ký, phê chuẩn hoặc gia nhập, bất cứ quốc gia nào cũng có | thể tuyên bố bảo lưu đối với bất cứ một điều khoản nào của công ước này, - ngoại trừ các điều 1 và 2.

2. Nếu một quốc gia nào đó tuyên bố bảo lưu, căn cứ theo 1 điều này của công ước, ngoại trừ việc bảo lưu liên quan đến các sư bảo lưu đó sẽ có hiệu lực giữa quốc gia bảo lưu và các quốc viên khác. Tổng Thư ký Liên hợp quốc sẽ thông báo bằng văn bản về sự bảo lưu đó cho tất cả các quốc gia là thành viên hoặc có thể là thành công ước. Bất cứ quốc gia thành viên nào của công ước hoặc sẽ trở thành thành viên của công ước có thể thông báo cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc rằng quốc gia đó có chấp nhận sự bảo lưu hay không.

Việc thông báo cần phải được tiến hành, với một quốc gia đã là thành viên, trong thời h ngày kể từ ngày Tổng Thư ký thông báo; với một quốc gia sắp trở thà thành viên, trong thời gian 9 ngày kể từ ngày quốc gia đó gửi văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập. Trong trường hợp một quốc gia tuyên bố không thì nhận sự bảo lưu của một quốc gia khác, công ước sẽ chưa có hiệu lực giữ quốc gia đó với quốc gia có đề nghị bảo lưu.

3. Bất kỳ quốc gia nào tiến hành bảo lưu căn cứ theo khoản 1 của điều này có thể rút lại sự bảo lưu vào bất cứ khi nào bằng việc gửi một văn bản thông báo tới Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Sự rút bảo lưu này sẽ có hiệu lực kể từ ngày Tổng Thư ký nhận được văn bản. 

Điều 9 

1. Bất cứ quốc gia thành viên nào cũng có thể rút khỏi công ước này bằng việc gửi một văn bản thông báo tới Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Việc bãi ước có hiệu lực sau một năm kể từ ngày Tổng Thư ký nhận được văn bản đó.

2. Công ước này chấm dứt hiệu lực kể từ ngày văn bản bãi ước làm số lượng quốc gia thành viên chỉ còn ít hơn 6 thành viên có hiệu lực. 

Điều 10 

Bất cứ sự tranh chấp nào có thể xảy ra giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng công tác này mà không dàn xếp được bằng thương lượng, thì theo nguyện vọng của một trong những quốc gia tranh chấp, có thể được đưa ra Tòa án Công lý quốc tế để phán xử, ngoại trừ khi các thành viên quốc gia nhất trí với hình thức giải quyết khác.

Điều 11

Tổng Thư ký Liên hợp quốc sẽ thông báo cho tất cả các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc và các quốc gia không phải là thành viên được đề khoản 1 Điều 4 của công tác này về việc:

a) Ký các văn kiện phê chuẩn theo Điều 4:
b) Các văn kiện gia nhập theo Điều 5: 
c) Ngày công tước bắt đầu có hiệu lực theo Điều 6: 
d) Các thông tin và thông báo theo Điều 8; 
e) Các thông báo bảo lưu theo Điều 9;
f) Việc bãi ước theo khoản 2 Điều 9.

Điều 12

1. Công ước này được viết bằng các thứ tiếng Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha, các bản đều có giá trị như nhau và được lưu giữ trong kho lưu trữ của Liên hợp quốc.

2. Tổng Thư ký Liên hợp quốc sẽ chuyển một bản sao đã chứng thực của Công ước cho tất cả các quốc gia là thành viên Liên hợp quốc và không phải là thành viên Liên hợp quốc được đề cập trong khoản 1 Điều 4.