Công ước về quyền cải chính quốc tế

Được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết 630 (VII) ngày 16 tháng 12 năm 1952; Có hiệu lực ngày 24 tháng 8 năm 1952.

Các quốc gia ký kết,

Mong muốn thực hiện quyền của tất cả các dân tộc được cung cấp tin tức một cách đầy đủ và đáng tin cậy,

Mong muốn thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc thông qua việc truyền bá một cách tự do các tin tức và quan điểm.

Bằng cách ấy, mong muốn bảo vệ nhân loại khỏi tai họa chiến tranh, ngăn chặn sự tái diễn hành động xâm lược từ bất kỳ nguồn nào, và để đấu tranh chống lại tất cả sự tuyên truyền mà được đưa ra nhằm mục đích hoặc có tính chất kích động hay khuyến khích bất kỳ sự đe dọa hòa bình, gây rối hòa bình hoặc các hành động xâm lược nào.


Ảnh minh hoạ.

Lưu ý đến nguy cơ từ việc đưa ra các thông tin sai sự thật với việc duy trì mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và việc duy trì hòa bình,

Lưu ý rằng, trong phiên họp thường kỳ thứ hai của Đại hội đồng Liên hợp quốcđã khuyến nghị về việc thông qua các biện pháp nhằm đấu tranh chống việc phổ biến những thông tin sai lệch và xuyên tạc có tính chất nguy hại đến quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia.

Tuy nhiên, lưu ý rằng, hiện tại, chưa có một thủ tục thực tế nào được thực hiện, ở cấp độ quốc tế, nhằm xác định tính chính xác của một thông tin để làm cơ sở áp dụng các hình phạt đối với việc đưa ra những thông tin sai lệch và xuyên tạc.

Tuy nhiên, lưu ý rằng, việc ngăn ngừa việc đưa ra các thông tin có tính chất như vậy hoặc làm giảm tác động nguy hại của các thông tin đó, như đã nêu ở trên, là cần thiết để thúc đẩy việc phổ biến rộng rãi các thông tin và để tăng cường ý thức về trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong việc phổ biến các tin tức thường kỳ,

Lưu ý rằng, một biện pháp có hiệu quả để chấm dứt tình trạng kể trên là trao cho các quốc gia bị tác động trực tiếp của các thông tin, được cung cấp bởi một cơ quan truyền thông, mà họ coi đó là sai lệch hay xuyên tạc, khả năng tương xứng trong việc công khai những lời cải chính của họ,

Lưu ý rằng, pháp luật của các quốc gia nào đó không cho phép quyền cải chính các thông tin của các chính phủ nước ngoài mà có lợi cho họ, và bởi vậy, mong muốn thiết lập quyền này ở cấp độ quốc tế, và Quyết định ban hành một công ước nhằm mục đích này,

Đã nhất trí về các nội dung sau đây:

Điều 1

Với những mục đích của Công ước này,

1. Thuật ngữ “bản tin” có nghĩa là những thông tin được truyền đi bằng các hình thức viết hoặc bằng các phương tiện truyền thông, theo các phương thức truyền tin thông thường của các cơ quan thông tin như là các thông tin nguồn trước khi xuất bản, cung cấp cho các báo, tạp chí định kỳ hoặc các cơ quan thông tấn.

2. Thuật ngữ “cơ quan thông tin” có nghĩa là một cơ quan xuất bản, thông tấn, phim, truyền hình hoặc truyền tin, công cộng hay tư nhân, thường kỳ tiến hành việc thu thập và phổ biến các tin tức, được thành lập và tổ chức theo pháp luật và quy chế của các quốc gia thành viên nơi đặt trụ sở chính của cơ quan đó, và theo pháp luật và quy chế của các quốc gia thành viên mà nơi các cơ quan đó hoạt động.

3. Thuật ngữ “phóng viên” có nghĩa là công dân của một quốc gia thành viên hoặc một cá nhân làm việc cho một cơ quan thông tin của một quốc gia thành viên, mà trong cả hai hòan cảnh đó, thường kỳ tiến hành thu thập và báo cáo những tin tức thu thập được cho cơ quan thông tin của họ, những người mà khi ở bên ngoài quốc gia của họ thì tư cách phóng viên phải được xác nhận bằng một hộ chiếu có giá trị hoặc bằng một giấy tờ tương tự được chấp nhận có tính quốc tế.

Điều 2 

1. Thừa nhận rằng, trách nhiệm nghề nghiệp của các phóng viên và các cơ quan thông tin đòi hỏi họ phải thông báo các sự thật không có sự phân biệt đối xử và trong phạm vi thích hợp của họ, qua đó thúc đẩy sự tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản, nâng cao sự hiểu biết và hợp tác quốc tế và trợ giúp việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế.

Cũng lưu ý rằng, như một vấn đề thuộc đạo lý nghề nghiệp, tất cả các phóng viên và cơ quan thông tin, trong trường hợp bản tin đã được chuyển đi hoặc công bố bởi họ và bị phát hiện là sai lệch hoặc xuyên tạc, cần thực hiện theo các tập quán trong việc truyền tin, qua các kênh thông tin hoặc xuất bản tương tự để cải chính lại những bản tin như vậy.

Các quốc gia thành viên nhất trí rằng, trong những trường hợp một quốc gia thành viên cho rằng có một bản tin có thể gây tác động xấu đến quan hệ của một quốc gia đó với các quốc gia khác hoặc ảnh hưởng xấu đến thanh thế, uy tín của quốc gia đó, được truyền đi từ một quốc gia tới quốc gia khác bởi một phóng viên hoặc cơ quan thông tin của một quốc gia thành viên hay chưa là thành viên của Công ước, và đã được công bố hoặc phổ biến ra nước ngoài, là chứa đựng những thông tin sai lệch hay bị xuyên tạc, thì quốc gia có thể đưa ra lời giải thích về sự thật (sau đây gọi là “thông cáo”) với những quốc gia thành viên mà một bản tin như vậy được công bố hay phổ biến trên lãnh thổ các nước đó. Một bản sao của thông cáo sẽ được chuyển tới phóng viên hoặc cơ quan thông tin có liên quan cùng thời điểm đó để nhắc nhở phóng viên và cơ quan thông tin đó cải chính bản tin như vậy.

2. Một thông cáo có thể được xuất bản khi chỉ đề cập đến bản tin và phải không bao gồm những bình luận hoặc bày tỏ quan điểm. Thông cáo đó cần đủ để cải chính những tin tác không chính xác và xuyên tạc và phải kèm theo nguyên bản của bản tin khi được công bố hay phổ biến, với dẫn chứng cho thấy bản tin đó đã được truyền đi từ nước ngoài bởi một phóng viên hoặc một cơ quan thông tin.

Điều 3

1. Với sự trì hoãn ít nhất có thể và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không lâu quá 5 ngày tròn kể từ thời điểm tiếp nhận một thông cáo được truyền đi theo như các quy định tại điều 2, một quốc gia thành viên, bất kể quan điểm của quốc gia đó về sự thật của vấn đề như thế nào, đều phải:

a. Công bố thông cáo đó với các phóng viên và cơ quan thông tin hoạt động trên lãnh thổ của quốc gia đó thông qua các kênh thông thường được sử dụng để truyền tin liên quan đến các quan hệ quốc tế, và

b. Gửi thông cáo đó tới trụ sở chính của cơ quan thông tin mà quản lý phóng viên đã đưa ra thông tin có vấn đề, nếu văn phòng chính đó đóng trên lãnh thổ của quốc gia.

2. Trong trường hợp quốc gia thành viên không thể hiện nghĩa vụ theo quy định tại điều này, đối với thông cáo của một quốc gia khác, thì sau đó, quốc gia đó có thể chấp nhận, trên cơ sở có đi lại, sự đối xử tương tự với một thông cáo về sau được đưa ra bởi quốc gia sơ suất.

Điều 4 

1. Nếu bất kỳ quốc gia thành viên nào mà đã gửi thông cáo theo quy định tại Điều 2 mà không được thực hiện, xét về mặt giới hạn thời gian thực hiện các nghĩa vụ được quy định trong Điều 3, thì Quốc gia thành viên đó có thể đưa ra một thông cáo, cùng với một văn bản gốc của bản tin có vấn đề mà đã được công bố hoặc phổ biến, với Tổng Thư ký Liên hợp quốc, và đồng thời phải thông báo cho các quốc gia bị khiếu nại về việc đó. Quốc gia bị khiếu nại có thể, trong vòng 5 ngày tròn kể từ khi nhận được thông cáo như vậy, trình lên Tổng Thư ký Liên hợp quốcnhững quan điểm của họ về vấn đề, nhưng chỉ đề cập đến những cáo buộc về việc họ đã không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 3.

2. Trong bất kỳ tình huống nào, trong vòng 5 ngày tròn kể từ khi nhận được thông cáo, Tổng Thư ký Liên hợp quốcphải công khai hóa vấn đề qua các kênh thông tin thích hợp, cùng với bản tin và các bình luận, nếu có, mà Tổng Thư ký nhận được bởi quốc gia khiếu nại.

Điều 5

Bất kỳ tranh chấp nào giữa bất kỳ hai hoặc nhiều quốc gia thành viên nào liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước, nếu không giải quyết được bằng thương lượng, được đưa ra Tòa án Công lý quốc tế phán xử, trừ khi các quốc gia thành viên tìm được biện pháp giải quyết khác.

Điều 6

1. Công ước này được mở cho việc ký của tất cả các quốc gia thành viên của Liên hợp quốcvà tất cả các quốc gia được mời dự Hội nghị của Liên hợp quốcvề Tự do Thông tin tổ chức tại Geneva năm 1948, và tất cả các quốc gia khác mà Đại hội đồng Liên hợp quốccó thể thông qua nghị quyết mời tham gia.

2. Công ước này phải được sự phê chuẩn của các quốc gia thành viên đã ký phù hợp với thủ tục hiến định của quốc gia đó. Các văn kiện phê chuẩn sẽ được Tổng Thư ký Liên hợp quốclưu chiểu.

Điều 7

1. Công ước này để ngỏ cho việc gia nhập của các quốc gia được đề cập trong Điều 6 (1).

2. Việc gia nhập có hiệu lực sau khi văn kiện gia nhập được Tổng Thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu.

Điều 8 

Công ước này có hiệu lực với các quốc gia được đề cập trong Điều 6 (1) sau 30 ngày kể từ ngày lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, gia nhập thứ sáu, nhưng chỉ đối với các quốc gia mà đã gửi các văn kiện của họ vào ngày lưu chiểu hoặc trước ngày đó. Với các quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này sau khi nó có hiệu lực, thì Công ước sẽ có hiệu lực với quốc gia đó sau ba mươi ngày kể từ ngày văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập của quốc gia được lưu chiểu.

Điều 9

Các quy định của Công ước này sẽ mở rộng đến và được áp dụng một cách bình đẳng trong tất cả các vùng lãnh thổ chính quốc hoặc các lãnh thổ chưa tự quản, các lãnh thổ Ủy thác hoặc thuộc địa mà thuộc quyền quản lý của một quốc gia thành viên.

Điều 10

Bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước này đều có thể tuyên bố rút khỏi Công ước bằng cách thông báo cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Tuyên bố bãi ước sẽ có hiệu lực sau 6 tháng kể từ ngày Tổng Thư ký Liên hợp quốctiếp nhận văn bản tuyên bố.

Điều 11

Công ước này sẽ không còn hiệu lực kể từ ngày tuyên bố bãi ước mà làm giảm số lượng quốc gia thành viên của nó xuống còn ít hơn 6 nuớc, có hiệu lực.

Điều 12

1. Bất kỳ khi nào các quốc gia thành viên của Công ước này đều có thể đề nghị sửa đổi Công ước bằng một văn bản gửi cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc.

2. Nếu cần, Đại hội đồng Liên hợp quốcsẽ quyết định các biện pháp phải tiến hành để đáp lại đề nghị như trên.

Điều 13

1. Tổng Thư ký Liên hợp quốcsẽ thông báo cho tất cả các quốc gia được đề cập trong Điều 6 (1) những thông tin sau:

Việc ký, phê chuẩn và gia nhập theo Điều 6 và 7. 
Ngày Công ước này có hiệu lực theo Điều 8.
Các tuyên bố bãi ước nhận được theo Điều 10.
Việc Công ước hết hiệu lực theo Điều 11.
Các thông báo nhận được theo Điều 12.

Điều 14

1. Công ước này được viết bằng các thứ tiếng A-rập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha, các bản đều có giá trị như nhau, được lưu chiểu tại cơ quan lưu trữ của Liên hợp quốc.

2. Tổng Thư ký Liên hợp quốcsẽ chuyển cho các quốc gia được đề cập trong Điều 6 (1) các bản sao có chứng thực của Công ước này.

3. Công ước này sẽ được đăng ký với Ban Thư ký Liên hợp quốc vào ngày nó có hiệu lực.

BBT