Công ước không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân loại

Được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và để ngỏ cho các nước ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2392 (XXIII) ngày 26/11/1968; có hiệu lực ngày 11/11/1970. Việt Nam gia nhập ngày 4/6/1983.

LỜI NÓI ĐẦU

Các quốc gia tham gia Công ước này,

Nhắc lại Nghị quyết số 3 (I) ngày 13/2/1946 và Nghị quyết số 170 (II) ngày 31/10/1947 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về dẫn độ và trừng trị các tội phạm chiến tranh, Nghị quyết số 95 (I) ngày 11/12/1946 khẳng định những nguyên tắc của Luật quốc tế được ghi nhận trong Hiến chương của Tòa án quân sự quốc tế Niiruberg và phán quyết của tòa án, Nghị quyết số 2184 (XXI) ngày 16/12/1966 đã lên án tội vi phạm các quyền về kinh tế, chính trị của dân bản xứ và chính sách như là các tội chống nhân loại.

Nhắc lại Nghị quyết số 1074 D (XXXIX) ngày 28/7/1965 và Nghị quyết số 1158 (XLI) ngày 5/8/1966 của Hội đồng kinh tế-xã hội của Liên hợp quốc về trừng trị các tội phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân loại. 

Lưu ý rằng, trong các tuyên ngôn, các văn kiện hay các công ước liên quan tới việc truy tố và trừng trị các tội phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân loại không quy định về thời hiệu.

Xét rằng, theo Luật quốc tế tội phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân loại nằm trong những tội phạm nghiêm trọng nhất. 

Tin tưởng rằng, trừng phạt có hiệu quả tội phạm chiến tranh và các tội phạm chống nhân loại là một yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa những loại tội phạm như vậy. Việc bảo vệ quyền con người và các tự do cơ bản, bảo đảm niềm tin, tăng cường hợp tác trong các dân tộc, thúc đẩy hòa bình và an ninh quốc tế. 

Lưu ý rằng, việc áp dụng đối với các tội phạm chiến tranh và các tội phạm chống nhân loại những nguyên tắc Luật quốc gia liên quan đến thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự áp dụng cho những tội phạm thông thường là một vấn đề được dư luận quốc tế quan tâm, kể từ khi việc ngăn ngừa truy tố và trừng trị những kẻ chịu trách nhiệm về những tội phạm này.

Công nhận rằng, sự cần thiết và đúng lúc để khẳng định trong pháp luật quốc tế, thông qua công ước này, nguyên tắc không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân loại và đảm bảo áp dụng phổ biến nguyên tắc này.

Nhất trí như sau:

Điều 1  

Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm sau:

a/ Các tội phạm chiến tranh như đã được định nghĩa trong Hiến chương của Tòa án quân sự quốc tế Niiruberg ngày 8/8/1945 và được khẳng định trong Nghị quyết số 3 (I) ngày 14/2/1946 và Nghị quyết số 95 (I) ngày 11/12/1946 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, đặc biệt những “tội phạm nghiêm trọng” đã được nêu trong Công ước Giơnevơ ngày 12/8/1949 về bảo hộ nạn nhân chiến tranh.

b/ Các tội chống nhân loại mà phạm vào trong thời chiến hay thời bình như đã được định nghĩa trong Hiến chương của Tòa án quân sự quốc tế Niiruberg ngày 8/8/1945 và được khẳng định trong Nghị quyết số 3 (I) ngày 14/2/1946 và Nghị quyết số 95 (I) ngày 11/12/1946 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, về sự xua đuổi do tấn công quân sự hay sự chiếm đóng và những hành động vô nhân đạo của chính sách Apartheid, và tội diệt chủng như đã được định nghĩa trong Công ước về  1948, thậm chí những hành vi như vậy cũng không cấu thành một hành vi phạm vào Luật quốc gia mà họ đã phạm.


Ảnh minh họa.

Điều 2  

Nếu phạm vào những tội được đề cập Điều 1 thì các quy định trong Công ước này phải được áp dụng đối với đại diện của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia và các cá nhân những kẻ đứng đầu hay đồng phạm tham gia hay trực tiếp kích động người khác phạm tội, những kẻ có âm mưu phạm tội, không kể mức độ hòan thành và đối với đại diện cho cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đã không truy cứu trách nhiệm hình sự cho sự phạm tội của họ.

Điều 3  

Các quốc gia thành viên Công ước này cam kết thông qua tất cả các biện pháp cần thiết trong nước, bao gồm biện pháp lập pháp hay các biện pháp khác nhằm có thể dẫn độ những tội phạm nêu tại Điều 2, Công ước này phù hợp với pháp luật quốc tế.

Điều 4  

Các quốc gia thành viên Công ước này cam kết, phù hợp với các thủ tục lập hiến của mình, thông qua mọi biện pháp lập pháp hay những biện pháp cần thiết khác để đảm bảo rằng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không áp dụng đối với việc truy tố hay trừng trị các tội phạm theo Điều 1 và Điều 2, Công ước này và xóa bỏ, các hạn chế có thời hiệu như vậy nếu có.

Điều 5  

Công ước này sẽ để ngỏ đến ngày 31/12/1969 để các quốc gia thành viên Liên hợp quốc hoặc thành viên của bất kỳ tổ chức chuyên môn nào của Liên hợp quốc hoặc cho cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, hoặc các nước tham gia quy chế Tòa án quốc tế cũng như các nước khác được Đại hội đồng Liên hợp quốc mời tham gia Công ước này ký.

Điều 6  

Công ước này phải được phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn phải được Tổng Thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu.

Điều 7  

Công ước này để ngỏ để cho tất cả các nước nêu ở Điều 5 gia nhập. Các văn kiện gia nhập phải được Tổng Thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu.

Điều 8

1. Công ước này có hiệu lực vào ngày thứ 90 sau ngày văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập thứ 10 được Tổng Thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu.

2. Đối với nước nào phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này, sau khi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập thứ 10 thì Công ước này có hiệu lực vào ngày thứ 90 kể từ ngày lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập của nước đó. 

Điều 9

1. Sau khi hết hạn một chu kỳ 10 năm kể từ ngày Công ước này có hiệu lực, các bên tham gia ký kết có thể đề nghị xét lại Công ước bất kỳ lúc nào bằng văn bản gửi cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc.

2. Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định các bước phải tiến hành trong trường hợp có đề nghị như trên.

Điều 10

1. Công ước này được Tổng Thư ký Liên hợp quốc lưu chiểu.

2. Tổng Thư ký Liên hợp quốc chuyển các bản sao, có chứng thực của Công ước này tới tất cả các quốc gia nêu ở Điều 5.

3. Tổng Thư ký thông báo cho tất cả các quốc gia theo Điều 5 trong những trường hợp sau:

a/ Ký kết, các văn kiện phê chuẩn và văn kiện gia nhập được lưu chiểu theo điều 5,6,7;
b/ Ngày có hiệu lực Công ước này theo Điều 8;
c/  Các thông tin nhận được theo Điều 9.

Điều 11

Công ước này viết bằng các thứ tiếng Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha, tất cả đều như nhau, được làm ngày 26/11/1968.

BBT