Nâng tầm vị thế của phụ nữ trên chính trường

Phụ nữ hiện nay thể hiện vai trò quan trọng của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, trong xã hội hiện đại, việc phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị là một trọng những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội nói chung, đồng thời là tiền đề để thực thi các quyền con người khác.

Nguyên tắc bình đẳng

Quyền chính trị của phụ nữ là yếu tố xác lập vị thế bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong đời sống chính trị - xã hội và thông qua đó, phụ nữ được tham gia vào quá trình ra các quyết định gắn liền với quyền và nghĩa vụ của họ trên mọi lĩnh vực. Việc thực hiện quyền chính trị của phụ nữ sẽ là điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội của phụ nữ vì quyền con người là một thể thống nhất 2 nhóm quyền: dân sự chính trị và kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực tiễn cũng chứng minh chỉ khi phụ nữ được tham gia trực tiếp vào công việc của xã hội, nhất là lãnh đạo và quản lý thì họ mới có cơ hội để thực hiện đầy đủ các quyền của mình. Do đó, quyền chính trị là quyền cơ bản và quan trọng nhất để thực hiện bình đẳng giới cho người phụ nữ.

Trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, bình đẳng giới được hiểu là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền con người và có cơ hội đóng góp, thụ hưởng những thành quả phát triển của xã hội. Công ước Liên hiệp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ xác định, việc thực thi quyền chính trị của phụ nữ phải được bảo đảm dựa trên 3 nguyên tắc: bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm quốc gia.

Ở Việt Nam, Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Như vậy, bình đẳng giới trong chính trị được hiểu là sự bảo đảm cho nam, nữ được bình đẳng, ngang nhau khi tham gia vào các hoạt động của đời sống chính trị, từ việc ứng cử, bầu cử vào các cơ quan đại diện của nhân dân, đến việc được bổ nhiệm, đề bạt vào các vị trí quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của Nhà nước. Nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Theo đó, bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị tập trung chủ yếu vào hai biện pháp để gia tăng số lượng phụ nữ trong các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương đó là bầu cử và bổ nhiệm.

Không phải đến khi Luật Bình đẳng giới được ban hành năm 2006 mà ngay từ những ngày đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp năm 1946 đã quy định: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”; “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá". Trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 6-1-1946, nữ giới chẳng những được đi bỏ phiếu mà còn được ứng cử, tham gia vào bộ máy nhà nước, kết quả của cuộc tổng tuyển cử này có hơn 300 đại biểu được bầu trong đó có 10 đại biểu nữ. Đây là một thành quả rất lớn không chỉ đối với dân tộc Việt Nam nói chung mà còn đối với nữ giới nói riêng tại thời điểm những năm 40 của thế kỷ XX - thời điểm mà hơn nửa các quốc gia trên thế giới còn chưa thừa nhận vị thế của người phụ nữ trong xã hội.

Thực tế

Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, nữ Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của Việt Nam.

Để bảo đảm cho nữ giới có đại diện trong cơ quan quyền lực nhà nước, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND 2015 quy định, phải bảo đảm ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ và ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức ứng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã là phụ nữ. Những căn cứ nêu trên là khung pháp lý chắc chắn cho quyền tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước của phụ nữ và thực tế Việt Nam đã đạt những thành tựu nhất định trong thúc đẩy quyền tham chính của phụ nữ, được cộng đồng thế giới ghi nhận.

Theo đánh giá của Liên hiệp quốc, bình đẳng giới ở Việt Nam là điểm sáng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Trên tất cả các lĩnh vực đều có sự cống hiến của nữ giới. Tuy hầu hết các cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước ở các cấp đều có tỷ lệ nam giới cao hơn, song chất lượng, hiệu quả, uy tín của cán bộ nữ đã ngày càng chứng tỏ nỗ lực cá nhân phụ nữ cũng như nỗ lực của cả xã hội trong quá trình thực hiện bình đẳng giới.

Về chính trị, nữ giới Việt Nam có tổ chức chính trị riêng, đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng. Điển hình, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng lên. Cụ thể: từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011-2016) và tỷ lệ này là 26,72% với 133 nữ đại biểu Quốc hội trên tổng số 496 đại biểu ở khóa XIV (2016-2021), xếp thứ 2 ASEAN và xếp thứ 43/143 nước trên thế giới. Đặc biệt, Quốc hội khóa XIV đã có nữ Chủ tịch Quốc hội đầu tiên. Ở cấp địa phương, tỷ lệ nữ là đại biểu HĐND tỉnh, huyện và xã ở các giai đoạn đều tăng, đặc biệt là ở cấp xã. So sánh kết quả bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 so với trước đều thấy có sự gia tăng tỷ lệ đại biểu nữ, cụ thể: cấp xã: 26,59% (tăng 5,86%), cấp huyện: 27,5% (tăng 2,89%), cấp tỉnh: 26,56% (tăng 1,19%). Thậm chí ở nhiều địa phương tỷ lệ phụ nữ trúng cử vượt dự kiến như: Đại biểu HĐND TP. Hồ Chí Minh, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt 43%; Đại biểu HĐND quận Cầu Giấy - TP. Hà Nội, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt gần 45%.

Tuy nhiên, so với tiềm năng và nguồn lực cán bộ nữ trong hệ thống chính trị thì tỷ lệ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ còn hết sức khiêm tốn. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội có xu hướng tăng không bền vững và có dấu hiệu giảm trong 2 nhiệm kỳ liên tục (khóa X 26,2%, khóa XI 27,3%, khóa XII 25,7% và khóa XIII còn 24,4%, khoá XIV tăng trở lại đạt 26,72%). Tỷ lệ cán bộ nắm giữ các vị trí ra quyết định giữa nam và nữ vẫn còn một khoảng cách khá xa, quyền quyết định ở các cấp vẫn chủ yếu là nam giới. Phụ nữ là lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đảng còn khiêm tốn, chỉ 10% trong BCH Trung ương Đảng khóa XII và 3 nữ là Ủy viên Bộ Chính trị (15,8%). Với các con số ở trên cho thấy, dù Việt Nam luôn đứng thứ hạng cao trên thế giới trong việc bảo đảm quyền của người phụ nữ khi tham gia vào các quan hệ xã hội, đặc biệt là tham gia vào bộ máy quản lý đất nước, nhưng so với tương quan nam giới vẫn còn chênh lệch rất lớn, đặc biệt những mục tiêu cụ thể trong lĩnh vực chính trị của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới.

Giải pháp

Nâng cao vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội nói chung cũng như trong thực hiện bình đẳng giới nói riêng. Từ những thách thức trong bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ, cần tập trung vào các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tăng tỷ lệ phụ nữ ứng cử chính thức trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp lên để bảo đảm quyền của phụ nữ có đại diện ngang bằng trong hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, cần bổ nhiệm thêm phụ nữ vào các vị trí quy hoạch ứng viên tiềm năng, đồng thời thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ trong quy hoạch tổng thể về đội ngũ cán bộ ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế kinh tế để góp phần tăng tính đại diện của phụ nữ lãnh đạo, quản lý. Sự cải cách và sáng tạo từ môi trường kinh tế lành mạnh có thể mang đến những tập quán mới, tạo ra nhiều cơ hội cho sáng kiến, chấp nhận những giá trị mới, qua đó tăng sự thừa nhận xã hội với việc phụ nữ lãnh đạo, quản lý. Các vấn đề phát triển xã hội quan trọng như bình đẳng giới, bền vững môi trường, giáo dục, sức khỏe gia đình, an sinh xã hội, nguồn lực y tế có liên quan đến sự phồn vinh về văn hóa và kinh tế của đất nước, đến lượt nó sẽ là cơ hội để phụ nữ có thể tham gia vào lĩnh vực chính trị và những hoạt động ngoài gia đình.

Thứ ba, huy động nguồn lực và sự tham gia của tất cả các cơ quan trong toàn hệ thống chính trị để thực hiện tốt các mục tiêu trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, gắn trách nhiệm cụ thể cho từng cấp, từng ngành và theo dõi chặt chẽ các kết quả thực thi cụ thể để đánh giá, giám sát việc thực hiện. 

Thứ tư, thúc đẩy hợp tác quốc tế để tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia có những thành tựu lớn về giới, bình đẳng giới. Tích cực, chủ động thể hiện trách nhiệm trong thực hiện các cam kết quốc tế về quyền bình đẳng của phụ nữ.

Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo ra một bước chuyển biến mới cả về lượng và chất trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ nước ta, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền bình đẳng nam nữ trên thực tế. Để đạt được bình đẳng thực chất, cần tăng cường giáo dục, tuyên truyền hơn nữa nhằm nâng cao trình độ nhận thức của người dân trong việc nhìn nhận vai trò, vị trí của phụ nữ; sự cam kết và đầu tư mạnh mẽ của Chính phủ, sự tham gia của các cấp, ngành, đoàn thể và mỗi cá nhân trong việc nâng cao vị thế, vai trò người phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị.

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, về cơ bản bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực với 7 mục tiêu cụ thể. Trong đó, mục tiêu 1 là tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Phấn đấu cán bộ phụ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp 35-40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới.

ThS. Hồ Thị Lý

Giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh