Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về quyền của người Khuyết tật

Các quốc gia thành viên tham gia Nghị định thư không bắt buộc này cam kết các điều sau đây:

Điều 1

1. Mỗi quốc gia thành viên tham gia Nghị định thư này (Sau đây gọi tắt là "Quốc gia thành viên”) công nhận thẩm quyền của Ủy ban về Quyền của người khuyết tật (Sau đây gọi tắt là "Ủy ban”) để tiếp nhận và xem xét các thông tin từ một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân, hoặc nhân danh một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân, đã được Nghị định thư này bảo hộ, khiếu nại rằng họ là nạn nhân bị Quốc gia thành viên đó vi phạm các điều khoản của Công ước về Quyền của người khuyết tật.

2. Ủy ban sẽ không tiếp nhận bất cứ thông tin khiếu nại nào liên quan đến một Quốc gia thành viên tham gia Công ước về Quyền của người khuyết tật, nhưng lại không phải là thành viên của Nghị định thư không bắt buộc này. 

Điều 2

Ủy ban sẽ không chấp nhận một thông tin tố cáo khi:
(a) Đó là thông tin tố cáo nặc danh; 
(b) Thông tin tố cáo lạm dụng quyền được gửi thông tin tố cáo hoặc không phù hợp với các điều khoản của Công ước về Quyền của người khuyết tật; 
(c) Những thông tin như vậy được kiểm tra bởi Ủy ban kiểm hoặc theo các thủ tục khác về kiểm tra và giải quyết tranh chấp; 
(d) Tất cả các cơ chế giải quyết sẵn có trong nội bộ Quốc gia đã không được sử dụng. Tuy nhiên, quy định này không được áp dụng ở một quốc gia thành viên mà việc áp dụng các cơ chế giải quyết việc tố cáo kéo dài một cách không hợp lý hoặc có thể không mang lại những giải pháp có hiệu quả; 
(e) Thông tin khiếu nại đó không có căn cứ rõ ràng hoặc là không chứng minh được một cách đầy đủ; hoặc khi 
(f) Các vụ việc thực tế của thông tin khiếu nại xảy ra trước khi Nghị định thư này có hiệu lực tại Quốc gia thành viên có liên quan, trừ phi những vụ việc đó vẫn tiếp diễn sau ngày Nghị định thư có hiệu lực. 

Điều 3

Dựa theo các khoản đã nêu trong Điều 2 của Nghị định thư này, Ủy ban phải bí mật chuyển các thông tin tố cáo tới Quốc gia thành viên bị cáo buộc để giải quyết. Trong vòng sáu tháng, Quốc gia thành viên bị cáo buộc phải có báo cáo giải trình với Ủy ban về các vụ việc đó và đề xuất các giải pháp nếu có mà Quốc gia thành viên đó đã tiến hành để giải quyết các vụ việc. 

Điều 4

1. Vào thời điểm bất kỳ sau khi nhận được thông tin khiếu nại và trước khi đạt tới một quyết định thỏa đáng, Ủy ban có thể chuyển yêu cầu khẩn cấp tới Quốc gia thành viên có liên quan phải đưa ra những biện pháp tạm thời cần thiết để tránh những thiệt hại không thể bù đắp được có thể xảy ra cho nạn nhân, hoặc cho các nạn nhân đã bị xâm hại.

2. Khi Ủy ban thực hiện thẩm quyền của mình được ghi trong khoản 1 điều này không có nghĩa là Ủy ban gợi ý cách giải quyết hay là đồng ý với thông tin tố cáo đó. 


Ảnh minh hoạ.

Điều 5

Ủy ban phải tổ chức các cuộc họp kín khi điều tra các vụ việc bị khiếu nại trong khuôn khổ Nghị định thư này. Sau khi điều tra xong vụ việc, Ủy ban phải chuyển các đề nghị và khuyến cáo của mình, nếu có, tới Quốc gia thành viên có liên quan và tới người gửi thông tin tố cáo. 

Điều 6

1. Nếu Ủy ban nhận được thông tin đáng tin cậy chứng minh rằng một Quốc gia thành viên vi phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm một cách có hệ thống các quyền của người khuyết tật được ghi trong Công ước về Quyền của người khuyết tật, thì Ủy ban sẽ yêu cầu Quốc gia thành viên đó hợp tác kiểm tra thông tin và sau đó sẽ đưa ra báo cáo kết quả điều tra về thông tin đã được đề cập.

2. Xem xét cả các báo cáo do Quốc gia thành viên có liên quan đệ trình cũng như các nguồn thông tin đáng tin cậy sẵn có khác của mình, Ủy ban có thể cử một hay một số Ủy viên của Ủy ban tiến hành thẩm tra và báo cáo khẩn cấp cho Ủy ban. Khi được đảm bảo và có sự chấp thuận của Quốc gia thành viên đó, việc thẩm tra có thể bao gồm cả một chuyến điều tra thực địa tới Quốc gia thành viên có liên quan. 

3. Sau khi kiểm tra các phát hiện của cuộc điều tra, Ủy ban phải chuyển các phát hiện này tới Quốc gia thành viên có liên quan cùng với các nhận xét và khuyến cáo của Ủy ban. 

4. Trong vòng 06 tháng kể từ khi nhận được các phát hiện cùng với các nhận xét và khuyến cáo của Ủy ban, Quốc gia thành viên có liên quan phải trình báo cáo điều tra của mình cho Ủy ban. 

5. Một cuộc thẩm tra như vậy phải được tiến hành bí mật và phải đảm bảo có sự hợp tác của Quốc gia thành viên có liên quan ở tất các giai đoạn của trình tự thủ tục điều tra. 

Điều 7

1. Ủy ban có thể yêu cầu Quốc gia thành viên có liên quan trình bày chi tiết trong báo cáo của mình theo quy định tại Điều 35 của Công ước các giải pháp đã thực hiện để đáp ứng cuộc thẩm tra được tiến hành theo quy định tại Điều 6 của Nghị định thư này. 

2. Nếu thấy cần thiết, sau khi kết thúc thời hạn sáu tháng theo quy định tại khoản 4, Điều 6, Ủy ban có thể yêu cầu Quốc gia thành viên có liên quan thông báo các giải pháp đã thực hiện để đáp ứng cuộc thẩm tra đó. 

Điều 8

Mỗi Quốc gia thành viên có thể tuyên bố rằng Quốc gia thành viên đó không công nhận thẩm quyền của Ủy ban được nêu trong các Điều 6 và 7 vào thời điểm ký, phê chuẩn hay gia nhập Nghị định thư này. 

Điều 9

Tổng Thư ký Liên hợp quốc sẽ lưu chiểu Nghị định thư này. 

Điều 10

Nghị định thư này được để ngỏ cho các Quốc gia thành viên, các tổ chức hợp tác khu vực đã tham gia ký Công ước về Quyền của người khuyết tật ký bắt đầu từ ngày 30 tháng 3 năm 2007 tại Trụ sở chính của Liên hợp quốc ở New York. 

Điều 11

Nghị định thư này phải được phê chuẩn bởi Quốc gia thành viên đã tham gia ký Nghị định thư này, các quốc gia đã phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước về Quyền của người khuyết tật. Nghị định thư này phải được sự khẳng định chính thức về việc tham gia của các tổ chức hợp tác khu vực đã tham gia ký kết Nghị định thư này cũng như đã chính thức khẳng định hay gia nhập Công ước về Quyền của người khuyết tật. Nghị định thư này để ngỏ cho bất kỳ quốc gia thành viên hay tổ chức hợp tác khu vực nào mà đã phê chuẩn, khẳng định chính thức hoặc gia nhập Công ước về Quyền của người khuyết tật nhưng chưa ký Nghị định thư gia nhập. 

Điều 12 

1. “Tổ chức hợp tác khu vực” có nghĩa là một tổ chức do các Quốc gia có chủ quyền ở một khu vực nào đó thành lập và được các Quốc gia thành viên trao thẩm quyền về các vấn đề được đề cập trong Công ước và Nghị định thư này. Những tổ chức hội nhập khu vực như vậy phải tuyên bố trong văn kiện khẳng định sự tham gia hoặc gia nhập chính thức của họ về sự mở rộng thẩm quyền của các tổ chức này đối với các vấn đề được đề cập trong Công ước và Nghị định thư. Sau đó các tổ chức này phải thông báo cho cơ quan lưu chiểu về bất kỳ những sửa đổi đáng kể nào trong phạm vi quyền hạn của mình. 

2. Khi nói đến “các quốc gia thành viên” trong Nghị định thư này có nghĩa là bao gồm cả các tổ chức hợp tác khu vực  như vậy trong phạm vi thẩm quyền của họ. 

3. Để phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 13, và khoản 2, Điều 15, không tính đến bất kỳ một văn kiện như vậy được các tổ chức hợp tác khu vực lưu chiểu. 

4. Tổ chức hợp tác khu vực, trong phạm vi quyền hạn của mình, có thể thực hiện quyền bỏ phiếu tại các phiên họp của các Quốc gia thành viên, với số phiếu ngang bằng với số lượng các Quốc gia thành viên của tổ chức hội nhập khu vực đó và đồng thời là quốc gia thành viên của Nghị định thư này. Tổ chức hội nhập khu vực không có quyền bỏ phiếu nếu các Quốc gia thành viên của tổ chức đó bỏ phiếu và ngược lại. 

Điều 13

1. Khi Công ước về Quyền của người khuyết tật có hiệu lực thì Nghị định thư này có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi lưu chiểu văn kiện phê chuẩn  hay gia nhập  thứ 10. 

2. Đối với từng Quốc gia thành viên hoặc tổ chức hợp tác khu vực phê chuẩn, khẳng định chính thức sự tham gia hay gia nhập Nghị định thư sau khi lưu chiểu văn kiện thứ 10 của văn bản phê chuẩn, khẳng định chính thức sự tham gia hay gia nhập Nghị định thư,  thì Nghị định thư phát sinh hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi lưu chiểu văn kiện Nghị định thư phê chuẩn, khẳng định chính thức sự tham gia hay gia nhập đó. 

Điều 14
1. Việc bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của Nghị định thư này không được chấp nhận. 
2. Ý kiến bảo lưu có thể được hủy bỏ vào bất kỳ thời điểm nào. 

Điều 15

1.Bất kỳ Quốc gia thành viên nào cũng có thể đề xuất sửa đổi Nghị định thư và trình đề xuất sửa đổi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Tổng Thư ký phải chuyển đề xuất sửa đổi cho các Quốc gia thành viên với một yêu cầu đề nghị họ cho biết liệu có cần triệu tập một cuộc họp các Quốc gia thành viên về việc xem xét và thông qua đề xuất sửa đổi đó hay không. Trong vòng 4 tháng tính từ ngày thông báo, nếu có ít nhất một phần ba (1/3) tổng số các Quốc gia thành viên của Nghị định thư tuyên bố tán thành tổ chức cuộc họp xem xét dự thảo sửa đổi, thì Tổng Thư ký phải triệu tập cuộc họp dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc. Mọi sửa đổi nào được hai phần ba (2/3) trong tổng số các Quốc gia thành viên tham dự phiên họp thông qua phải được Tổng Thư ký đệ trình lên Đại hội đồng Liên hợp quốc để phê duyệt và sau đó các Quốc gia thành viên chấp thuận. 

2. Văn kiện sửa đổi được thông qua và phê chuẩn theo quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi có hai phần ba (2/3) trong tổng số các Quốc gia thành viên của Nghị định thư gửi văn kiện chấp nhận sửa đổi và các văn kiện chấp nhận này được lưu chiểu kể từ ngày thông qua sửa đổi. Sau đó văn kiện sửa đổi sẽ có hiệu lực tại các Quốc gia thành viên tham gia vào ngày thứ 30 sau khi lưu chiểu văn kiện chấp thuận sửa đổi của chính các Quốc gia thành viên đó. Văn kiện sửa đổi chỉ có hiệu lực ràng buộc tại các Quốc gia thành viên đã chấp thuận sửa đổi. 

Điều 16

Một Quốc gia thành viên muốn rút khỏi Nghị định thư này phải thông báo bằng văn bản cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Việc rút khỏi Nghị định thư này sẽ có hiệu lực sau một năm kể từ ngày Tổng Thư ký Liên hợp quốc nhận được thông báo rút khỏi Nghị định thư. 

Điều 17

Nội dung của bản Nghị định thư này phải được trình bày để có thể được tiếp cận dưới các dạng thức tiếp cận khác nhau. 

Điều 18

Nguyên văn Nghị định thư này bằng tiếng Ả-rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha đều có giá trị như nhau. 

Để làm bằng, những đại diện được Chính phủ của nước họ trao thẩm quyền, đã ký vào bản Nghị định thư này dưới đây. 

BBT