Nhiều chính sách cho vay ưu đãi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Tốc độ giảm nghèo ở vùng Dân tộc thiểu số, miền núi và vùng đặc biệt khó khăn đạt mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

"Nhờ có các chương trình, chính sách giảm nghèo của nhà nước, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu (ATK), vùng dân tộc thiểu số, miền núi năm 2017 giảm 4,33% so với năm 2016. Tốc độ giảm nghèo ở vùng Dân tộc thiểu số, miền núi (DTTS&MN) và vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK) đạt mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ".

Đây là thông tin do Ths Phạm Hồng Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Ủy ban Dân tộc trong Hội nghị tập huấn chính sách, pháp luật về công tác thông tin đối ngoại giữa Việt Nam và Campuchia.

Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, nếu so với kết quả giảm nghèo chung của cả nước, thì tình trạng hộ nghèo và cận nghèo ở vùng DTTS&MN, nhất là tình trạng nghèo của người DTTS vẫn đang là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay.

Tính đến cuối năm 2017, còn gần 865.000 hộ nghèo là người DTTS, chiếm 5 nghèo cả nước (trong khi đó tỷ lệ dân số DTTS chiếm 13,6% dân số của cả nước. Mặt khác, vẫn còn nhiều nhóm DTTS có tỷ lệ hộ nghèo lên đến trang gấp hơn 6 lần so với bình quân chung của cả nước hiện nay là 6,7%).

Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi có phải có những giải pháp đột phá với nguồn lực đầu tư đủ mạnh cho chính sách giảm nghèo gắn liền với phát triển KTXH vùng DTTS&MN, vùng ĐBKK thì mới thực hiện được mục tiêu thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa miền núi và đồng bằng, giữa DTTS và người Kinh.

Sinh kế của người dân vùng DTTS đặc biệt là đồng bào các DTTS hiện nay chủ yếu thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp. Tỷ lệ các nhóm DTTS có việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ còn hạn chế, chưa khai thác được tiềm năng trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ của khu vực. Thu nhập bình quân đầu người các DTTS hiện nay trung bình vào khoảng 1,1 triệu/người/tháng, chưa bằng % so với mức bình quân chung của cả nước.

Về đất đai: mặc dù sinh kế gắn với nông lâm nghiệp là chủ yếu, nhưng tình trạng không có hoặc thiếu đất sản xuất đang diễn ra phổ biến đối với người dân vùng DTTS nói chung và cộng đồng các DTTS nói riêng.

Theo số liệu điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 DTTS, có đến 68,5% hộ DTTS có nhu cầu cần thêm đất để sản xuất. Trong đó có nhiều nhóm dân tộc ở Tây Nguyên có trên 80% số hộ thiếu đất sản xuất . Nếu không có những cơ chế, chính sách hỗ trợ kịp thời để chuyển đổi cơ cấu lao động, đa dạng hóa các loại hình sinh kế cho người dân thì rất khó có thể đạt được các mục tiêu phát triển bền vững trên địa bàn vùng DTTS&MN.

Tình trạng lao động và việc làm của người DTTS: theo số liệu thống kê, có khoảng 6,2% lao động người DTTS đã qua đào tạo, bằng 1/3 so với tỷ lệ trung bình của cả nước. Tình trạng thiếu việc làm của thanh niên DTTS đang là  vấn đề bức xúc hiện nay ở vùng DTTS&MN. Trong số hơn 9,38 triệu người DTTS từ 15 tuổi trở lên, có hơn 1,3 triệu người chưa có việc làm ổn định.

Tín dụng của hộ đồng bào DTTS: hiện tại có khá nhiều chính sách cho vay ưu đãi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo với sự đa dạng về đối tượng, mục đích vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Trong giai đoạn 3 năm từ năm 2016 đến 31/8/2018, dư nợ cho hộ đồng bào DTTS vay đạt 45.194 tỷ đồng với trên 1,4 triệu khách hàng là hộ dân tộc thiểu số. 

Tuy nhiên, các nhóm DTSS vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, đặc biệt là các giải pháp sử dụng vốn vay một cách hiệu quả. Mặt khác, DTTS&MN hiện vẫn chưa có cơ chế, chính sách tín dụng ưu đãi dành những hộ biết làm ăn, những người có khả năng khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp để tạo ra việc làm, thu nhập cho người dân ở khu vực này.

Bảo Anh