Quyền con người và tự do có mối liên hệ như thế nào?

Trên thực tế hầu như không có sự phân biệt và khác biệt trong vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quyền và tự do cơ bản của con người.

Khái niệm tự do (freedom) có thể hiểu một cách khái quát là tình trạng một cá nhân có thể và có khả năng hành động theo ý chí, nguyện vọng của mình, phù hợp với các quy phạm pháp lý và đạo đức trong một xã hội dân chủ.

Tự do thường được phân thành tự do chủ động (positive freedom) và tự do thụ động (negative freedom). Tự do chủ động là tự do của cá nhân nhằm để đạt được mục tiêu cụ thể nào đó (ví dụ như tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp…). Tự do thụ động là tự do của cá nhân khỏi bị các chủ thể khác xâm phạm đến (như tự do thân thể…).

Ảnh minh họa.

Tự do là một yếu tố nền tảng của nhân phẩm, phẩm giá cao quý của con người. Việc tước đoạt tự do và nhân quyền làm tổn hại nghiêm trọng đến nhân phẩm. Chính bởi vậy J.J.Rousseau đã chỉ trích những người không dám đứng lên bảo vệ tự do: “Từ bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người và cả nghĩa vụ làm người” (Bàn về Khế ước Xã hội - 1762). Tự do mang tính lựa chọn cá nhân, J.S.Mill cho rằng cần bảo vệ tư do của các cá nhân để họ được “sống hạnh phúc theo ý của họ, hơn là bắt họ sống hạnh phúc theo ý những người xung quanh” (Bàn về tự do - 1859).

Cũng về điều này, K.Marx và F.Engels khẳng định cần hướng đến một xã hội lý tưởng trong tương lai mà “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người.” (Tuyên ngôn của đảng cộng sản - 1848).

Luật nhân quyền quốc tế đề cập đến cả hai khái niệm: các quyền (rights) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người. Tuy nhiên, trên thực tế hầu như không có sự phân biệt và khác biệt trong vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quyền và tự do cơ bản của con người, bởi lẽ các tự do cơ bản thường được diễn đạt như là các quyền (ví dụ, tự do ngôn luận cũng thường được gọi là quyền tự do ngôn luận..).

Kim Hảo