Quyền hưởng thụ các thành tựu phát triển kinh tế

Trong hơn 20 năm qua, Việt Nam đã nỗ lực mạnh mẽ trong việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách  nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân và bảo vệ môi trường. Nhiều chính sách mới quan trọng, có tầm ảnh hưởng rộng đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và người dân đã được ban hành. 

Hiến pháp và các văn bản pháp luật đã thiết lập những chế định quan trọng nhất, định hướng cho sự phát triển của Nhà nước và điều chỉnh mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội, bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định và công bằng xã hội.

Hệ thống pháp luật của Việt Nam trên lĩnh vực này được đánh giá là đã tiếp cận phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước, trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển. 

Một khối lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành liên quan đến quyền con người, quyền công dân như Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Thuế bảo vệ môi trường, Luật Hợp tác xã (sửa đổi), Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu... Các văn bản pháp luật này tạo khung pháp lý quan trọng bảo đảm sự bình đẳng về quyền và cơ hội trong sản xuất, kinh doanh giữa các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất, kinh doanh, quyền sở hữu, đặc biệt là sở hữu tư nhân cũng như địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, doanh nhân.

Sau gần 30 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được các thành tựu quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, bình quân 7,5%/năm; cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp, giảm tỉ trọng nông nghiệp.

Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống của người dân. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh đã tạo động lực cho phát triển kinh tế. 

Trong giai đoạn 2011-2015, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 1,8 lần so với 5 năm trước, chiếm 31,2% GDP; vốn FDI thực hiện đạt 58,2 tỷ USD, tăng 31%; vốn ODA giải ngân đạt khoảng 24 tỷ USD, tăng 70,5%. Nhờ đó, Nhà nước có điều kiện dành nhiều nguồn lực hơn để đầu tư cho các mục tiêu ưu tiên về xã hội như giáo dục, y tế, xây dựng hạ tầng công cộng, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ các vùng khó khăn, các nhóm xã hội dễ bị tổn thương... 

Ảnh minh họa.

Mức sống của người dân Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt. Tổng thu nhập quốc nội (GDP) bình quân đầu người/năm tăng từ 1.024 đô la Mỹ năm 2008 lên 1.543 đô la Mỹ năm 2011 và 2.228 đô la Mỹ năm 2015 (tính theo sức mua ngang giá là trên 5.600 đô la). Sự cách biệt về thu nhập giữa thành thị và nông thôn được thu hẹp dần. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 13,7% năm 2008 xuống còn 4.5% năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 2%. Thu nhập bình quân của hộ nghèo tăng gần 2 lần trong 5 năm qua. Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam từng bước được nâng lên và đang dần tiếp cận với chuẩn nghèo quốc tế.

Trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã đặt mục tiêu “ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng; bảo đảm quốc phòng an ninh, ổn định chính trị xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế”.

Bên cạnh đó, một loạt chính sách được ban hành nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả nền kinh tế, cụ thể như: Quyết định số 26/2012/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia; Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ; Quyết định 712/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình quốc gia Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020; Thông tư số 31/2013/TT-BTC ngày 18/3/2013 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn cơ chế tài chính chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia.

Nhờ những nỗ lực này, lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô dần ổn định, tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn khoảng 2% vào năm 2015, thấp nhất trong 15 năm qua; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 18%/năm trong giai đoạn 2011-2015. 

Với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế vì quyền và lợi ích của người dân, trong những năm qua, Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế (10/4/2013) xác định hội nhập kinh tế là trọng tâm, trong đó phải không ngừng cải thiện môi trường thu hút đầu tư nước ngoài, gắn thu hút đầu tư với giám sát quá trình thực thi, bảo đảm an ninh kinh tế, hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, quản lý chặt chẽ nợ công.

Việt Nam cũng thể hiện vai trò chủ động, tích cực trong các liên kết kinh tế quốc tế như tại APEC, các hợp tác tiểu khu vực, tiểu vùng, tham gia đàm phán nhiều hiệp định tự do thương mại, đặc biệt là Hiệp định tự do thương mại với EU, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương …

BBT