Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật được quy định như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?

Quyền này đồng thời được coi như một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật nhân quyền quốc tế, do đó được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong tất cả các văn kiện quốc tế về nhân quyền, tuy nhiên, quy định về quyền này đầu tiên được đề cập trong các Điều 1, 2, 6, 7, 8 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR), sau đó được tái khẳng định trong các Điều 2, 3, 16 và 26  Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR).

Quyền này bao gồm ba khía cạnh liên kết với nhau đó là: (i) không bị phân biệt đối xử, (ii) được thừa nhận tự cách con người trước pháp luật, và (iii) có vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đăng. 

Điều này đặt ra một nghĩa vụ với các quốc gia thành viên phải nghiêm cấm và trừng phạt mọi sự phân biệt đối xử, đảm bảo cho mọi người có mặt trên lãnh thổ nước mình, bất kể người đó là công dân nước mình, người không quốc tịch hay người nước ngoài, sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc bất cứ địa vị nào khác. 

Theo Ủy ban giám sát CCPR, quyền này phải được áp dụng trong mọi tình huống, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia.

Mặc dù ICCPR không đưa ra định nghĩa về sự phân biệt đối xử, tuy nhiên theo Ủy ban giám sát công ước, thuật ngữ này được hiểu là bất kỳ sự phân biệt, loại bỏ, hạn chế hay thiên vị nào được thực hiện dựa trên bất kỳ yếu tố nào như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, quốc tịch hay thành phần xã hội, tài sản, nguồn gốc hay các vị thế khác, mà có mục đích hoặc có tác động làm vô hiệu hóa hay làm suy giảm sự thừa nhận, thụ hưởng hay thực hiện các quyền và tự do của tất cả mọi người trên cơ sở bình đẳng. 

Ảnh minh họa.

Cũng theo Ủy ban, trong những bối cảnh có liên quan, các định nghĩa về sự phân biệt đối xử về chủng tộc (nêu ở Điều 1 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc), và về phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (nếu ở Điều 1 Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ) sẽ được áp dụng.

Cần chú ý là theo Luật nhân quyền quốc tế, bình đẳng không có nghĩa là áp dụng một kiểu đối xử cho mọi đối tượng trong cùng một tình huống (tức cào bằng), và không phải mọi sự khác biệt về đối xử đều bị coi là sự phân biệt đối xử theo nghĩa tiêu cực. Nếu sự đối xử khác biệt được xác định dựa trên các điều kiện hợp lý, khách quan và nhằm mục đích để đạt được sự bình đẳng thì không bị coi là trái với ICCPR.

Trong pháp luật Việt Nam, quyền này trước hết được ghi nhận tại Điều 51 Hiến pháp, trong đó quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. 

Quy định này được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật trên nhiều lĩnh vực như trong Điều 5 BLDS, Điều 1 Luật Quốc tịch năm 2008, Điều 1 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2002, sau đây viết tắt là Luật BCĐBQH), Điều 1 Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 (sau đây viết tắt là Luật BCĐBHĐND), Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, Điều 10 Luật Thương mại năm 2005, Điều 8 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 (sau đây viết tắt là Luật TCTAND), Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (sau đây viết tắt là BLTTHS), Điều 8 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sau đây viết tắt là BLTTDS), Điều 21 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Điều 20 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996; Điều 20 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 1998 và 2004, các Chương III và IV Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

TL