Quyền sống được quy định như thế nào trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam?

Quyền sống (the right to life) được quy trong Điều 3 UDHR và Điều 6 ICCPR. Đây được coi là "quyền quan trọng nhất của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị vi phạm..."

Theo Điều 6 ICCPR, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện những biện pháp thích hợp để bảo vệ mọi người khỏi nguy cơ bị tước đoạt tính mạng một cách tùy tiện bởi mọi chủ thể. 

Theo Ủy ban giám sát thực hiện ICCPR (Ủy ban nhân quyền - Human Rights Committee), yêu cầu này gồm cả các biện pháp để làm giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ, trẻ em; xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và dịch bệnh cũng như nâng cao các tiêu chuẩn sống cho người dân...Có nghĩa là việc bảo đảm quyền sống không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là bảo đảm sự toàn vẹn về tính mạng mà còn bao hàm việc bảo đảm sự tồn tại của con người. 

Quyền sống liên quan đến vấn đề hình phạt tử hình. Mặc dù ICCPR chỉ khuyến nghị chứ không bắt buộc các quốc gia phải xóa bỏ hình phạt tử hình, Điều 6 Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên giới hạn việc áp dụng hình phạt những tội ác nghiêm trọng nhất, và không hình phạt này với những người dưới 18 tuổi, cũng như không được thi hành án tử hình những phụ nữ đang mang thai.

Trong pháp luật Việt Nam, liên quan đến quyền sống, Điều 71 Hiến pháp năm 1992 ( (được sửa đổi năm 2002, sau đây viết tắt là Hiến pháp) quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”. 

Quy định này được tái khẳng định trong Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS). Bộ luật Hình sự năm 1999 (được đổi, bổ sung năm 2009, sau đây viết tắt là BLHS) dành - một chương (Chương XII, từ Điều 93 đến 122) quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, theo đó, mọi hành vi vô cớ đe dọa hay các đoạt mạng sống của con người đều bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc.

Tương tự như nhiều quốc gia khác, Việt Nam hiện vẫn còn duy trì hình phạt tử hình, xuất phát từ yêu cầu khách quan về phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, số điều luật có khung hình phạt tử hình trong BLHS của Việt Nam đã được giảm đi đáng kể (từ 44 điều trong BLHS năm 1985 xuống còn 29 điều trong BLHS năm 1985 xuống còn 29 điều, năm 1999 và 25 điều hiện nay). 

Ảnh minh họa.

Theo Điều 35 BLHS: Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử. Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi”. Pháp luật hình sự Việt Nam cũng bao gồm những quy định chặt chẽ về thủ tục để bảo đảm xét xử công khai, minh bạch và công bằng trong các vụ án có hình phạt tử hình.

Liên quan đến khía cạnh thứ hai của quyền sống (việc bảo đảm các điều kiện tồn tại của con người, đặc biệt là những đối tượng khó khăn), pháp luật Việt Nam đã bao gồm các chế định cụ thể về bảo trợ xã hội. Khuôn khổ pháp luật về vấn đề này hiện đã khá toàn diện và ngày càng được hoàn thiện.

Liên Khải