Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin trong Hiến pháp Việt Nam

Hiến pháp năm 2013 (Điều 25) quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin”. Hệ thống pháp luật Việt Nam về báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình đã được xây dựng và đang được hoàn thiện theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền tự do ngôn luận của nhân dân. 

Luật Báo chí (sửa đổi), được Quốc hội thông qua ngày 5/4/2016, quy định rõ quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân và trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo đó công dân có quyền “sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí (điều 10); phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới, tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức đó (điều 11); Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (điều 13)”. 

Quyền tự do ngôn luận, báo chí, thông tin còn được thể hiện trong Luật xuất bản năm 2012, Nghị định số 88/2012/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin, báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam và nhiều văn bản khác. 

Ngày 15/7/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về “quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”, qua đó tạo điều kiện thúc đẩy việc sử dụng internet và việc đưa các thông tin hữu ích lên mạng internet; phổ cập dịch vụ internet ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thúc đẩy môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch cho các doanh nghiệp, tăng cường bảo đảm an toàn và an ninh thông tin trên mạng, phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc cũng như các tiêu chuẩn về quyền con người được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên. 

Ngày 19/11/2015, Quốc hội thông qua Luật An toàn thông tin mạng, quy định về quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm an toàn thông tin mạng; kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng; phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin mạng, quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng. Luật có quy định về việc thiết lập kênh thông tin trực tuyến để tiếp nhận phản ánh của tổ chức, cá nhân về vấn đề liên quan đến thông tin cá nhân; đồng thời đơn giản các quy định liên quan đến cấp phép kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.

 Luật Tiếp cận thông tin cũng được Quốc hội thông qua ngày 06/4/2016, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện việc tiếp cận thông tin; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, theo đó thông tin được cung cấp phải chính xác, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân. Việc hạn chế tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng. 

Nhà nước tạo điều kiện cho người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Luật cũng có quy định rõ về thông tin công dân không được tiếp cận như thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ…

Ảnh minh hoạ.

Báo chí đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức chính trị, xã hội và nhân dân; là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích chung của xã hội và các quyền tự do dân chủ của nhân dân; kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp, chính sách của Nhà nước, đặc biệt về quyền con người. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, bày tỏ chính kiến, đóng góp ý kiến về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. 

Nhiều cơ quan báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, vi phạm quyền con người, quyền công dân và các biểu hiện tiêu cực khác. Thông tin trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình ngày càng phong phú và cập nhật hơn. Các phiên họp của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, các buổi chất vấn Chính phủ được truyền hình trực tiếp. Nhiều chương trình đối thoại, chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời”, tranh luận, thăm dò ý kiến… với nội dung phong phú, đa chiều về mọi vấn đề đã được đăng tải, truyền thanh, truyền hình rộng rãi. Dự thảo Hiến pháp năm 2013 đã được đăng công khai và nhận được hơn 26 triệu ý kiến đóng góp trước khi được Quốc hội thông qua. 

Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian qua là minh chứng sinh động về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam.

Tính đến 31/12/2014, Việt Nam có 838 cơ quan báo chí (trong đó có 199 cơ quan báo in) với 1.111 ấn phẩm; gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ và khoảng 5.000 người hoạt động báo chí nhưng chưa đủ điều kiện được cấp thẻ nhà báo; một hãng thông tấn quốc gia; 67 đài phát thanh, truyền hình với 179 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh; 92 báo và tạp chí điện tử, 1.607 trang thông tin điện tử, 420 mạng xã hội đã đăng ký hoạt động. 

Thông tấn xã Việt Nam đã xuất bản các ấn phẩm song ngữ tiếng Kinh với các tiếng dân tộc như Khơ-me, Chăm, Ba-na, Gia-rai, Ê-đê, Mông, Mơ-nông, Cờ-ho, góp thêm kênh thông tin sinh động dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số, giúp họ nâng cao mức thụ hưởng văn hóa thông qua các sản phẩm báo chí. Đài Tiếng nói Việt Nam phủ sóng 99,5% diện tích lãnh thổ và phủ sóng qua vệ tinh tới nhiều nước trên thế giới. Hệ phát thanh dân tộc VTV4 bắt đầu phát sóng năm 2004 và hiện phát thanh 11 thứ tiếng dân tộc gồm tiếng Mông, Dao, Thái, Ê-đê, Gia-rai, Ba-na, Xơ-đăng, Cờ-ho, Chăm, Khơ-me, Mơ-nông và Cơ-tu. 

Chương trình phát thanh đối ngoại VOV5 bắt đầu phát sóng lần đầu tiên ngày 7/9/1945 bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Quảng Đông. Ngoài chương trình phát tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, hiện VOV5 còn được phát thanh bằng 11 ngôn ngữ khác là tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Nhật, Trung Quốc, Đức, Lào, Thái Lan, Khơ-me, In-đô-nê-si-a. Đến nay, Đài Truyền hình Việt Nam đã phủ sóng vệ tinh 100% lãnh thổ Việt Nam và một số quốc gia láng giềng; phạm vi phủ sóng mặt đất của kênh VTV1 chiếm 90%, kênh VTV3 chiếm 80% dân cư. 

Người dân Việt Nam được tiếp cận với 40 kênh truyền hình nước ngoài được cấp phép biên tập phát sóng, trong đó các kênh như CNN, BBC, Bloomberg, TV5, DW, NHK, KBS, Australia Network... Ngoài 40 kênh trên, các tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể đăng ký thu trực tiếp kênh truyền hình nước ngoài từ vệ tinh. Có 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Nhiều báo và tạp chí nước ngoài in bằng nhiều thứ tiếng được phát hành rộng rãi tại Việt Nam.

Tính đến tháng 6/2015, Việt Nam có 63 nhà xuất bản (so với 55 nhà xuất bản năm 2009). Tốc độ tăng bình quân số lượng xuất bản phẩm hàng năm từ 5-10%. Số lượng đăng ký xuất bản năm 2014 là 37.000 xuất bản phẩm với 370 triệu bản in; nộp lưu chiểu 30.000 xuất bản phẩm với nội dung phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu đọc của người dân. Luật Xuất bản sửa đổi đã được Quốc hội thông qua tháng 11/2012, thể hiện việc tôn trọng, bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm của cá nhân.

Việc sử dụng internet được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện, nhằm phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và các quyền tự do của nhân dân.

Tính đến hết tháng 12/2014, số người dùng Internet ở Việt Nam là 44,7 triệu, chiếm 49% dân số. Tính đến tháng 6/2015, số thuê bao sử dụng băng thông rộng là 123.544.415, trong đó số thuê bao 3G là 36.875.151, số thuê bao truy cập internet băng thông rộng cố định là 6.698.948. Theo Tổ chức Liên minh viễn thông quốc tế (ITU), Việt Nam đứng thứ ba ở Đông Nam Á và thứ 7 tại Châu Á về số lượng người sử dụng Internet.

BBT