Tranh luận. Lãnh đạo nữ trong chính trị và ngoại giao: Nên hay không?

Dù phụ nữ đã đạt được nhiều tiến bộ trong cuộc chiến bình đẳng giới, nhưng số lãnh đạo nữ trong ngành chính trị và ngoại giao vẫn còn ở mức thấp.

Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi tiếp đón Nữ hoàng Anh Elizabeth vào năm 1983. (Nguồn: Getty)

Vào năm 2021, chỉ có 22 quốc gia có nguyên thủ là nữ. Phụ nữ chỉ chiếm 21,6% số đại sứ ở 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Hơn nữa, chỉ 13 quốc gia có nội các bình đẳng giới và chỉ 3 quốc gia có cơ quan lập pháp bình đẳng giới (phụ nữ chiếm từ 50% số ghế).

Trong khi đó, thế giới có đến 193 quốc gia. Bởi vậy, bình đẳng giới nhìn chung vẫn là một mục tiêu xa vời.

Việc có nhiều phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo liệu có tạo ra sự khác biệt?

Câu trả lời là điều này tạo ra một sự khác biệt rất lớn và rất tích cực.

Chẳng hạn như việc xử lý đại dịch Covid-19. Một phân tích do Trung tâm nghiên cứu Chính sách kinh tế và Diễn đàn Kinh tế thế giới công bố cho thấy Covid-19 được kiểm soát “hiệu quả hơn một cách có hệ thống” ở các quốc gia do phụ nữ lãnh đạo như Thủ tướng Angela Merkel của Đức, Thủ tướng Jacinda Ardern của New Zealand, Thủ tướng Mette Frederiksen của Đan Mạch và Thủ tướng Sanna Marin của Phần Lan.

Gia tăng sự ổn định chính trị

Lãnh đạo nữ thậm chí còn có khả năng làm tăng sự ổn định chính trị và thúc đẩy hòa bình. Một số nghiên cứu cho thấy, khi có nhiều phụ nữ tham gia chính phủ, khả năng xảy ra xung đột giảm đi đáng kể. Một phân tích về 182 hiệp định hòa bình đã ký từ năm 1989 đến năm 2011 cho thấy những hiệp định này có khả năng duy trì lâu hơn 35% khi phụ nữ góp phần vào quá trình đàm phán và hòa giải.

Đưa phụ nữ tham gia các quyết định chính trị làm giảm khả năng xảy ra xung đột, tham nhũng, bất ổn, khủng bố và bạo lực tình dục.

Mặc dù vậy, phụ nữ thường xuyên bị loại khỏi các cuộc đàm phán hòa bình. Liên hợp quốc ước tính chỉ 2,4% hòa giải viên và 9% các nhà đàm phán là nữ. Đây là một sự bất công và một cơ hội cho hoà bình có thể bị lãng phí.

Tất nhiên, phe phản đối nhận định này có thể đặt ra những câu hỏi như: Chẳng phải bà Margaret Thatcher đã phát động cuộc chiến Falklands để tái đắc cử đó sao? Chẳng phải bà Indira Gandhi đã cản trở nền dân chủ bằng cách áp đặt tình trạng khẩn cấp ở Ấn Độ? Người đoạt giải Nobel Hòa bình – bà Aung San Suu Kyi không hề có động thái nào trước nạn diệt chủng người Rohingya thì sao?

Những câu hỏi này không thể phủ nhận lập luận nêu trên; thay vào đó, nhắc nhở chúng ta rằng, mỗi nữ lãnh đạo đều có khuyết điểm trong sự nghiệp. Thực tế là hàng trăm lãnh đạo nam đã làm những điều còn tệ hơn nhiều.

Ngoài ra, còn có lập luận về “chế độ nhân tài” cho rằng điều quan trọng đối với một nhà lãnh đạo không phải là giới tính mà là bằng cấp và kinh nghiệm.

Lập luận này thực tế ủng hộ quan điểm nên có nhiều phụ nữ nắm vai trò lãnh đạo hơn. Nếu giới tính không quan trọng, chắc chắn phụ nữ có thêm động lực để đảm nhận các vai trò lãnh đạo trong chính trị và ngoại giao. Rõ ràng, lập luận "chế độ nhân tài" là không có giá trị.

Thủ tướng Đức Angela Merkel đưa ra tuyên bố về kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, vào ngày 9/11/2020 tại Berlin. (Nguồn: AFP)

Công trạng mới là quan trọng nhất

Ở các nước đang phát triển, các quyền kinh tế - xã hội của phụ nữ bị tụt hậu so với các quyền chính trị. Một số quốc gia châu Á có nhà lãnh đạo là phụ nữ được bầu một cách dân chủ.

Trên thực tế, người phụ nữ đầu tiên được bầu làm Thủ tướng trên thế giới là bà Sirimavo Bandaranaike của Ceylon (tức Sri Lanka ngày nay) vào năm 1960.

Kể từ đó, châu Á đã có nhiều lãnh đạo nữ như bà Indira Gandhi của Ấn Độ, bà Golda Meir của Israel, bà Corazon Aquino và bà Gloria Arroyo của Philippines, bà Benazir Bhutto của Pakistan, bà Khaleda Zia và bà Sheikha Hasina của Bangladesh, bà Chandrika Kumaratunga của Sri Lanka, bà Megawati Sukarnoputri của Indonesia, bà Yingluck Shinawatra của Thái Lan và bà Park Geun-hye của Hàn Quốc…

Mặc cho danh sách dài các nhà lãnh đạo nữ, nhưng tốc độ trao quyền cho phụ nữ vẫn bị hạn chế ở các quốc gia này. Về vấn đề hòa bình, chiến tranh Ấn-Pakistan năm 1971 diễn ra dưới nhiệm kỳ của Thủ tướng Indira Gandhi. Tại Sri Lanka, tổ chức vũ trang “Những con hổ giải phóng Tamil” vẫn hoạt động mạnh mẽ dưới thời của Tổng thống Chandrika Kumaratunga.

Ở Trung Đông, trong khi một phần giới lãnh đạo ủng hộ việc trao quyền cho phụ nữ, vẫn còn tâm lý xã hội phản đối phụ nữ tham gia chính trường. Trong khi khu vực này đã trao cho phụ nữ quyền bầu cử và tranh cử, một cuộc thăm dò cho thấy chỉ có 15% những người được khảo sát tin vào việc một phụ nữ sẽ đắc cử và 57% chắc chắn điều này sẽ không xảy ra.

Một nghiên cứu khác cho thấy hơn 60% phụ nữ phản đối việc phụ nữ tham gia tranh cử. Một nghiên cứu của Ủy ban các vấn đề phụ nữ của Hiệp hội Wassat Arab-Hồi giáo dân chủ cho thấy “phụ nữ vẫn chưa tin vào khả năng ứng cử vào các cơ quan công quyền của những phụ nữ khác”.

Trong khi các nước đang phát triển tồn tại nhiều lập trường trái ngược nhau về vai trò lãnh đạo của phụ nữ, thì các nước phát triển lại có rất nhiều ví dụ về các nữ quan chức ngoại giao cấp cao không phải là người theo chủ nghĩa hòa bình.

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Albright là một phần trong kế hoạch chiến tranh của Tổng thống Bill Clinton lúc bấy giờ ở Bosnia; cựu Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice đã nhiều lần biện minh cho các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, bà Hillary Clinton cũng vậy.

Gần đây nhất, nữ Phó Tổng thống đầu tiên của Mỹ, bà Kamala Harris, đã không có nhiều động thái ngoại giao trong cuộc xung đột Nga-Ukraine. Ngay cả 11 nữ bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao trong Liên minh châu Âu cũng không thể ngăn cản tình trạng bất ổn trong khu vực.

Một phần lớn lý thuyết nữ quyền khẳng định rằng chiến tranh, phân biệt chủng tộc và đàn áp phát triển mạnh dưới chế độ phụ hệ. Nếu sự lãnh đạo của phụ nữ thực sự tạo ra một thế giới bình đẳng hơn, thì phải giải thích thế nào về việc phụ nữ trở thành lãnh đạo của một số đảng chính trị cánh hữu và tân phát xít? Hơn nữa, tại sao họ im lặng về việc cấm các chương trình nghiên cứu giới tính ở một số trường đại học tại châu Âu?

Thủ tướng Phần Lan Sanna Marin, sinh năm 1985, là Thủ tướng trẻ nhất thế giới (Nguồn: EPA)

Câu chuyện của Phần Lan

Nếu đây là những ví dụ từ các lĩnh vực chính trị-ngoại giao, thì đây là một ví dụ từ xã hội rộng lớn hơn. Chính phủ liên minh hiện tại của Phần Lan có 5 đảng, tất cả đều do phụ nữ trẻ lãnh đạo. Khoảng một nửa cán bộ văn phòng lập pháp và các bộ của nước này là phụ nữ.

Điều này đã đưa Phần Lan đứng thứ hai trong Báo cáo khoảng cách giới toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2021.

Tuy nhiên, theo Cơ sở dữ liệu toàn cầu của Liên hợp quốc về Tỷ lệ bạo lực đối với phụ nữ năm 2021, 23% phụ nữ Phần Lan trong độ tuổi từ 15 đến 49 đã từng bị bạo lực gia đình trong đời.

Mặc dù con số này chỉ thấp hơn ở Mỹ và Anh, nhưng lại cao hơn ở Pháp, Thụy Điển, Italy và Tây Ban Nha - những quốc gia có ít đại diện nữ hơn trong quốc hội và chính phủ.

Hơn nữa, mặc dù các nước Bắc Âu thường có chỉ số bình đẳng giới cao nhất thế giới, nam giới và phụ nữ vẫn đưa ra những lựa chọn truyền thống về giới trong giáo dục cũng như công việc.

Do đó, giới tính không nhất thiết phải là yếu tố quyết định trong ngoại giao và lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo không trở nên tốt hơn vì họ là phụ nữ, vì họ vẫn phải dựa vào tình hình trong nước và quốc tế. Sự khác biệt thuần túy về mặt sinh học và tâm lý giữa nam và nữ không có nghĩa là người này tốt hơn người kia trong vấn đề gìn giữ hòa bình.

(baoquocte.vn)