Vụ bé trai 2 tuổi mất tích ở Bắc Ninh: Các đối tượng bắt cóc sẽ bị xử lý như thế nào?

Hành vi đưa cháu bé rời khỏi sự quản lý của bố mẹ mà không được sự đồng ý đã cấu thành tội Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi.

Đối tượng Đặng Văn Bằng và đối tượng Nguyễn Thị Thu liên quan đến vụ bắt cóc cháu Nguyễn Cao Gia Bảo ở Bắc Ninh.

Đêm 22/8, Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an tỉnh Bắc Ninh di lý đối tượng Nguyễn Thị Thu (sinh năm 1988, trú quán tại tổ 5, phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, hiện đang ở xóm 16, xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang) và Đặng Văn Bằng (sinh năm 1987, trú quán tại xóm 16, xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang) từ tỉnh Tuyên Quang về thành phố Bắc Ninh.

Đây là hai đối tượng liên quan đến vụ bắt cóc cháu Nguyễn Cao Gia Bảo (sinh năm 2018, trú tại khu Khúc Toại, phường Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh) vào 17h ngày 21/8 gây xôn xao dư luận. Ngay trong đêm, Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an tỉnh Bắc Ninh đã lấy lời khai của các đối tượng.

Chiến dịch "giải cứu" 24 giờ

Nguyễn Thị Thu khai, ngày 20/8, Thu nảy sinh ý định muốn bắt một em bé về để nuôi. Do trước đó, Thu từng đi tập thể dục tại Công viên Nguyễn Văn Cừ, thành phố Bắc Ninh và thấy có nhiều trẻ nhỏ đang chơi.

Thực hiện ý định bắt trẻ con, 17h ngày 21/8, Thu đến công viên Nguyễn Văn Cừ, thấy cháu Nguyễn Cao Gia Bảo đang chơi một mình, Thu liền rủ cháu bé theo, sau đó sử dụng chiếc xe máy chở cháu bé về khu nhà trọ tại phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh.

Trước câu hỏi về việc đối tượng có cho cháu bé uống thuốc ngủ, Nguyễn Thị Thu một mực khẳng định không làm điều này và cho biết khi bị bắt cóc cháu bé rất ngoan, không khóc lóc và đòi bố mẹ. Bên cạnh đó, Thu cũng cho biết bản thân không có mâu thuẫn cá nhân hay thù oán với gia đình cháu bé.

Sáng sớm 22/8, Thu mang theo cháu Nguyễn Cao Gia Bảo và cùng bạn trai là Đặng Văn Bằng di chuyển về Tuyên Quang. Đến trưa cùng ngày, cả hai đối tượng và cháu Gia Bảo đến xóm 16, xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Trao đổi với các cơ quan báo chí, Đại tá Phạm Thế Tùng, Giám đốc Công an tỉnh Bắc Ninh cho biết ngay sau khi nhận được vụ việc, ông đã chỉ đạo Công an thành phố Bắc Ninh phối hợp với Phòng Cảnh sát Hình sự, Phòng Cảnh sát Cơ động và các lực lượng tổ chức tìm kiếm cháu bé tại công viên và khu vực xung quanh nhưng không thấy.

Xác định đây là vụ việc có dấu hiệu vụ án “bắt cóc trẻ em”, sáng 22/8, Giám đốc Công an tỉnh đã chỉ đạo xác lập chuyên án truy xét, huy động các lực lượng áp dụng các biện pháp nghiệp vụ tổ chức truy tìm cháu bé và truy xét đối tượng, đồng thời thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Kết quả, sau hơn 24 giờ nhận được thông tin vụ việc, 21h30 ngày 22/8, lực lượng Công an tỉnh Bắc Ninh được sự hỗ trợ của Phòng Trọng án, Cục Cảnh sát Hình sự, Bộ Công an và Công an tỉnh Tuyên Quang đã phát hiện, giải cứu thành công cháu bé tại xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Ngay trong đêm, hai đối tượng thực hiện hành vi bắt cóc trẻ em và cháu Gia Bảo được lực lượng chức năng đưa từ Tuyên Quang về thành phố Bắc Ninh để điều tra, làm rõ.

Hình thức xử lý như thế nào?

Liên quan đến vụ việc này, Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Tinh Thông Luật (Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh) cho rằng: “Trẻ em là tương lai của đất nước, chính vì vậy trẻ em xứng đáng và cần phải được nuôi dưỡng, trưởng thành trong một xã hội an toàn và đầy đủ. Pháp luật hiện nay đã dần hoàn thiện các quy định để bảo vệ môi trường sống của trẻ em và giảm thiểu triệt để, loại trừ các hành vi xâm hại”.

Theo Luật sư Diệp Năng Bình, Luật Trẻ em nghiêm cấm hành vi bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em...Tuy nhiên, thời gian qua, những vụ bắt cóc trẻ em diễn ra ngày càng táo tợn với nhiều thủ đoạn tinh vi khiến dư luận không khỏi bàng hoàng. Loại tội phạm này đang trở thành vấn nạn của xã hội.

“Về vụ việc trên, dưới góc độ pháp lý, hành vi đưa cháu bé rời khỏi sự quản lý của bố mẹ mà không được sự đồng ý đã cấu thành tội Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi. Tội phạm và hình phạt được quy định rất rõ tại Điều 153 Bộ luật hình sự năm 2015”, Luật sư Diệp Năng Bình cho hay.

Luật sư Nguyễn Anh Thơm, Trưởng văn phòng Luật sư Nguyễn Anh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, để có căn cứ xử lý các đối tượng, Cơ quan điều tra sẽ làm rõ động cơ, mục đích bắt cháu bé để xử lý tương ứng về hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật.

“Hành vi phạm tội của đối tượng là nghiêm trọng không những đã xâm phạm đến quyền được chăm sóc, nuôi và sống chung với cha mẹ, quyền được bảo vệ của trẻ em mà còn gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân bởi vấn nạn bắt cóc trẻ em đã và đang diễn ra trong xã hội nên cần thiết phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để làm gương cho những kẻ đã và đang có ý định phạm tội”, Luật sư Nguyễn Anh Thơm nhấn mạnh.

Về hướng xử lý, 2 luật sư đề chung quan điểm đó là căn cứ vào quá trình điều tra, cơ quan chức năng sẽ tiến hành làm rõ động cơ, mục đích phạm tội để bắt đối tượng sẽ chịu trách nhiệm một trong các tội dưới đây:

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

i) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của 02 người trở lên mà tỷ lệ của mỗi người 46% trở lên;

d) Làm chết người.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.